“Vừng ơi, mở ra”... cái gì?

Theo nhiều nghiên cứu sinh vật học thì hạt vừng có trong bữa ăn của con người từ năm 1.600 trước Công nguyên, và được coi là một trong những thứ hạt lâu đời nhất. Truyền thuyết “Lưu Nguyễn nhập thiên thai” (Trung Quốc) kể khi hai chàng Lưu Nguyễn gặp tiên nữ thì thấy họ ăn cơm với vừng đen. Chi tiết này có thể là để “thi vị hóa” món ăn dân dã cũng là món ăn của “tiên”. Nhưng chắc có một ý nghĩa là hạt vừng rất quý. Quý nên “tiên” mới dùng!

Lại có truyền thuyết về nhân vật Lỗ Nhĩ Sinh hơn 80 tuổi, chỉ ăn vừng mà vẫn khỏe, đi mấy ngàn dặm “nhanh như hươu nai”. Lại có thể hiểu hạt vừng rất có ích cho con người, cung cấp năng lượng rất tốt cho người cao tuổi. Truyền thuyết Phật giáo kể Thái tử Siddhartha trong thời kỳ đầu đi tìm giáo lý Phật pháp đã trải qua thực tập với các thử thách gian nan nhất, như ngủ trên giường có chiếu trải là những gai nhọn. Mỗi ngày chỉ ăn một hạt lúa mì, và một hạt vừng. Thế nên thân Ngài rất gầy… Tóm lại, từ rất xa xưa, hạt vừng đã được coi là món ăn vừa quý, vừa bình dân, từ Tiên đến Phật, rồi người thường dân, ai cũng có thể ăn…

untitled-1.jpg -0
Hình ảnh cây vừng dân dã.

Lấy hạt vừng nhỏ bé, hết sức bình dị, giản đơn để đặt tên cho giải pháp “mở ra” cực lớn, chắc truyền thuyết xứ Ba Tư có lý lẽ riêng của họ!

Không chỉ “nở” ra tươi tốt ở xứ Ả Rập, hạt vừng còn “nở” ở mọi vùng văn hóa trên thế giới. Huyền thoại nhiều dân tộc phương Tây kể khi các vị Thánh gặp nhau ở Nước Chúa. Trước khi bàn đến vấn đề lớn nhất là sáng tạo nên thế giới, họ đã cùng nhau uống loại rượu vang làm từ hạt vừng. Chi tiết này có thể đi vào tập quán người Hy Lạp cổ nên đã giúp họ cho thêm vừng vào các món bánh mì nướng.

Ngày nay ở một số nước phương Tây vẫn còn tập quán này, nên với một số loại bánh được rắc vừng thì bán chạy hơn hẳn. Theo truyền thuyết của người Hindu thì hạt vừng là biểu tượng cho sự bất tử và niềm tin. Vì lẽ này dầu vừng (thứ dầu được ép từ hạt vừng) thường được dùng trong các nghi lễ. Theo sử sách thì người Trung Quốc dùng cây vừng để chế tạo làm thành một thứ mực viết. Người Ai Cập dùng dầu vừng thắp sáng đốt đèn. Người Ả Rập, Ấn Độ chủ yếu dùng dầu vừng trong lễ nghi tôn giáo… Đến đây ta có thể hiểu thêm hình tượng “vừng” trong câu thần chú, vì đó còn là biểu tượng mang tính hai chiều, vừa đời thường, gần gũi, vừa thiêng liêng, cao quý (!?).

Trước 1986, ở ta tàu xe đi lại khó khăn, lương thực, thực phẩm đắt đỏ, hiếm hoi nên cứ đi xa là phải có “cơm nắm muối vừng”. Ngày ấy là bình dân, “quê mùa” nhưng với ngày nay thì thành “đặc sản”. Giời ạ! Xa nhà, lúc đói giở “cơm nắm” ra, xắt từng miếng nhỏ chấm với muối vừng, thì hơn mọi “sơn hào hải vị”. Nếu muối vừng lại thêm “ruốc khô” thì “hết xảy” (từ ngữ trước 1986 hay dùng). Thế nên mới có ca dao: “Muối mè rang với ruốc khô/ Có chết xuống mồ cũng dậy mà ăn”. Vừng (còn gọi là “mè”) thường được dân gian dùng làm món ăn gọi là “muối vừng”, bằng cách cho vừng khô cùng ít muối hạt rang già, giã mịn. Rang ít thì ăn ngay, rang nhiều thì cho vào lọ ăn hàng tuần mà vẫn thơm mùi.

Có kích thước rất nhỏ, hình bầu dục, vỏ hạt vừng có nhiều loại: màu trắng kem, màu vàng, tím, đen, đỏ. Ở Việt Nam thường có 2 loại vừng trắng (hạt màu trắng kem) và vừng đen. Hạt vừng nhỏ đến mức đi vào ca dao trào phúng để chế giễu những “đấng nam nhi” mà yếu đuối quá: “Làm trai cho đáng sức trai/ Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng”. Ở ta vừng được trồng ở nhiều nơi, miễn là có đất trồng trọt. Nhưng ngon nổi tiếng thì vừng Sơn La và Bắc Giang. Ai lên Bắc Giang sẽ được biết “đặc sản” bánh đa rắc vừng đen, thơm giòn ngon nổi tiếng. Lên Sơn La sẽ được thưởng thức món xôi vừng đen...

Hiện nay, Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico có sản lượng vừng cao nhất thế giới. Đa số vừng được thu hạt để ép lấy dầu. Theo phân tích, trong mỗi hạt vừng chứa từ 38-50% dầu, chống lại sự ôi thiu và khó bị đông đặc trong nhiệt độ thấp. Ở Trung Quốc vừng còn dùng nhiều vào việc làm thuốc. Các nước phương Tây và Ấn Độ thường dùng làm các món ăn, nhất là để chế biến món salad. Món này có thêm vừng sẽ cho hương vị thơm ngon khác hẳn. Ở ta có thương hiệu kẹo vừng giòn tan hấp dẫn trẻ em.

image004.jpg -1
Hình ảnh một nghi lễ dùng đèn dầu vừng ở Ấn Độ.

Trong các loại vừng, vừng đen (còn gọi mè đen, hồ ma, du tử miêu), Đông y gọi là “hắc chi ma”, một loại thuốc bổ, có vị ngọt, tính bình, không độc, ích gan, bổ thận, nhuận tràng, điều hòa ngũ tạng... Vừng đen được ưa chuộng vì những tính năng đặc biệt của nó, không chỉ là thực phẩm bổ dưỡng rất tốt, nhờ thành phần có nhiều chất dinh dưỡng nên thích hợp cho người già yếu suy nhược, trẻ em suy dinh dưỡng, sản phụ thiếu máu, thiếu sữa. Ngoài ra còn cung cấp các vitamin nhóm B (B1, B2, B3…) giúp hoạt động của hệ thần kinh, hỗ trợ chuyển hóa năng lượng từ thức ăn.

Một bài thuốc quý Đông y làm từ vừng cùng hà thủ ô và mật ong đến nay vẫn còn dùng phổ biến. Có điều đặc biệt là khi đồ vừng phải làm đủ 9 lần mới phát huy hết tác dụng. Theo y học cổ truyền phương Đông, ba loại món ăn “cực bổ dưỡng” có vừng đen, thích hợp mọi lứa tuổi, tốt nhất cho người yếu: Vừng đen hầm với chân giò (heo/lợn); Cháo vừng; Nước mật ong vừng (giã vừng thành bột trộn với mật ong).

Với tư cách một biểu tượng, tất nhiên vừng “nở hạt” nhiều trong văn chương, nhiều hơn trong thơ. Chỉ xin giới thiệu vài câu trong bài thơ hay “Món quê” (2006) của Nguyễn Trọng Tạo: “Nghìn năm hay vạn năm xưa/ Muối vừng cơm nắm lon dưa vại cà/ Món quê thơm thảo mặn mà/ Vẫn len lỏi chốn phồn hoa phố phường”. Cũng xin trình bày một băn khoăn mong độc giả chỉ giáo. Đó là câu ca dao: “Tiếc công anh vun vén cây mè/ Mè chưa ra trái, con chim què đậu lên”. Và một bài khác dài hơn: “Sớm mai ra đứng sân sau/ Hai tay xụi xuống như tàu chuối te/ Tiếc công vun quén cây mè/ Mè không ra trái, chim hòe đậu lên/ Tiếc công lên xuống, xuống lên/ Mòn đàng chết cỏ không nên tự trời…”. Cả hai đều nói về tâm trạng người trai thất tình. Nhưng tại sao lại mượn hình tượng “cây mè”? “Chim què” hay “chim hòe”? Chim hòe không thấy trong Danh mục các loài chim…?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).