Vua Matthias & đạo quân Đen

Nửa sau thế kỷ XV, từng có một siêu quyền lực quân sự hiện hữu ở châu Âu. Không phải quân đội Anh. Không phải quân đội Pháp. Càng không phải Tây Ban Nha, Phổ hay Nga - những đại cường quân sự còn chưa kịp trỗi dậy. 

Nhưng, do chỉ duy trì được danh tiếng và sức mạnh của mình trong 32 năm ngắn ngủi mà đến bây giờ, những ký ức về Đạo quân Đen của nước Hungary chỉ còn được biết đến bởi thiểu số những người nghiên cứu có độ chuyên sâu nhất định, về lịch sử quân sự thế giới cũng như châu Âu. Và dĩ nhiên, trong niềm tự hào của dân tộc Hungary.

Vàng son thời dựng nước

Để hiểu rõ hơn về Đạo quân Đen (tiếng Hung: Fekete sereg, tiếng Anh: The Black Army, The Black Legion hoặc The Black Regiment) của nhà vua Matthias Corvinus (Matthias đệ nhất), có lẽ chúng ta không thể không lần ngược dòng lịch sử sâu hơn, để cảm nhận một thứ tinh thần thượng võ thấm đẫm các thế hệ chiến binh của mảnh đất này.

Mặc dù gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra những lập luận mới mang tính nghi vấn và phủ định, nhưng quan niệm cổ điển vẫn xem thủy tổ của người Hungary - dân tộc Hun - là người Hung Nô di cư tới châu Âu từ Bắc - Trung Á.

Matthias Corvinus. Ảnh: L.G.
Matthias Corvinus. Ảnh: L.G.

Hung Nô, trong thư tịch cổ Trung Hoa, đã từng là nỗi ám ảnh đối với nền văn minh Hoa Hạ suốt những quãng thời gian rất dài. 

Các nước Yên, Triệu, Tần trong "Chiến quốc thất hùng" đều từng phải xây riêng những đoạn tường nhằm ngăn vó ngựa du mục của họ, để rồi đến khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng không tiếc máu xương của hàng trăm vạn dân binh, nối lại các đoạn ấy và xây mới thêm, hoàn tất Vạn lý Trường Thành vĩ đại, gắn liền với câu cách ngôn "Bất đáo Trường Thành phi hảo hán" (Chưa tới Trường Thành, chưa gọi là hảo hán).

Nhưng, kể cả Vạn lý Trường Thành cũng không ngăn cản được sự sụp đổ của nhà Tần, và cũng không có bao nhiêu tác dụng trong việc kìm hãm những vó ngựa du mục đột kích. 

Người Hung Nô, đầu thời Tây Hán, sau khi thôn tính các bộ tộc khác đồng thời bắt đầu xây dựng tổ chức chính trị thống nhất (dưới trướng một Thiền Vu), hùng mạnh đến độ có thể huy động tới 30 vạn kỵ binh (số liệu theo Sử ký Tư Mã Thiên) bao vây Hán Cao Tổ Lưu Bang ở trận Bạch Đăng (năm 200 TCN), bức ông phải ký hòa ước thừa nhận địa vị chính trị bình đẳng, từ bỏ tham vọng sử dụng biện pháp quân sự với họ, đồng thời chấp nhận gả các công chúa nhà Hán cho các Thiền Vu (gọi là chính sách hòa thân).

Đạo quân Đen trong một trận công thành.
Đạo quân Đen trong một trận công thành.

Phải đến đời Hán Vũ Đế, khi thiết chế chính trị của nhà Hán đã được củng cố vững chắc và tỏ ra vượt trội về cơ cấu vận hành so với người Hung Nô (vốn lại đang dần trở nên chia rẽ), tương quan lực lượng mới bắt đầu thay đổi. 

Hai đại tướng nhà Hán là Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, từ năm 129 TCN tới năm 119 TCN, liên tiếp thực hiện các cuộc hành quân tập kích xuyên qua sa mạc Gobi, dần dần đánh sập uy phong người Hung Nô. 

Có điều, đến thời Ngũ Hồ loạn Hoa, dân Nam Hung Nô (đã Hán hóa khá rõ rệt) vẫn còn đủ mạnh để cùng những dân tộc thiểu số khác nhân cơ hội nhà Tấn loạn lạc mà tràn vào tranh bá đồ vương ở vùng phía Bắc Trường Giang.

Nhánh Bắc Hung Nô, sau một chiến dịch đại bại dưới tay tướng Đậu Hiến thời Hán Hòa Đế, dần dần di chuyển về phía Tây, xuyên qua Trung Á (theo học giả Nguyễn Hiến Lê cùng nhiều thư tịch phương Tây). 

Và rồi, họ đặt chân đến châu Âu, trở thành nỗi kinh hoàng đối với đế quốc Đông La Mã, khi được dẫn đầu bởi một thủ lĩnh kiệt hiệt: Attila the Hun - người để lại câu nói khủng khiếp: "Nơi nào vó ngựa ta đi qua, nơi đó cỏ không mọc được nữa!", người từ Trung Á xuất binh đánh đến tận biên thùy nước Pháp, tàn phá cả vùng Bắc Ý và chỉ chịu dừng vó chinh phạt khi La Mã liên thủ với những bộ tộc Germany để chống lại mình. 

Dù sao, Attila và đoàn quân Hung Nô của mình - như rất nhiều sử gia thừa nhận - cũng chính là khởi nguồn của tên nước Hungary hiện đại (như người Frank gốc Germany mang đến danh xưng France cho nước Pháp).

Nối tiếp họ, sau khi Attila chết và liên minh Hung Nô tan vỡ, khi các khoảng trống quyền lực xuất hiện và sau bao lần bị giành giật bởi tay các thế lực chính trị, những người Magyar gốc Bulgar (một sắc dân Slave) kế thừa vị trí chủ nhân của vùng đất ấy. Apard, thủ lĩnh của họ, thống nhất các bộ lạc Magyar rồi tiến vào đất Hung hiện đại, vùng đồng bằng Pannonia, năm 896. 

Nhanh chóng kiện toàn thể chế nhà nước và cơ cấu quân đội, người Magyar bảo vệ chủ quyền của mình bằng những trận giao tranh ngang dọc Trung Âu. Năm 996, nước Hungary kiến quốc. 

Năm 1000, họ trở thành Vương quốc Hungary theo Thiên Chúa giáo, đứng độc lập với cả Đế quốc La Mã thần thánh (Holy Roman Empire) lẫn đế quốc Đông La Mã (Byzantine). Lịch sử và ký ức dân tộc của họ, đến lúc ấy, đầy nghẹt lòng kiêu hãnh và những chiến công. Không có gì ngạc nhiên, khi họ sản sinh ra một đội quân lừng lẫy như Fekete Sereg.

Quang cảnh trận Breadfiled.
Quang cảnh trận Breadfiled.

Hùng tâm tráng chí

Nhắc đến Fekete Sereg, mọi tài liệu nghiên cứu lịch sử đều phải nhắc đến cha đẻ của nó: Nhà vua Matthias Corvinus (1443-1490) của triều đại Hunyadi.

Đó có lẽ là một trong những bậc đế vương được rèn luyện kỹ lưỡng và toàn diện nhất trong lịch sử toàn bộ các nền quân chủ phong kiến, trên căn bản là một năng khiếu ngoại ngữ xuất sắc. 

Như các ghi chép để lại, ông có thể nói được tiếng Latin, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Ba Lan, tiếng Czech một cách trôi chảy. Sử gia Ba Lan thế kỷ XVI Krzystoff Warszewiecki viết rằng ông còn có thể sử dụng tiếng Romania, trong khi Antonio Bonfini - một nhà thơ người Ý từng phục vụ ông - quả quyết rằng Matthias Corvinus "thông thạo mọi thứ ngôn ngữ ở cựu lục địa".

Hiển nhiên, đó là một sự cường điệu. Song, sự cường điệu của một người đến từ nước Ý - cái nôi của thời Phục Hưng - có lẽ cũng phần nào khắc họa sự xuất sắc của vị vua nước Hung.

Trên nền tảng đó, Matthias Corvinus có thể nghiên cứu rất sâu về hai lĩnh vực ông ưa thích: văn học cổ điển, và đặc biệt là lý luận quân sự. Một bậc minh quân văn võ song toàn đã được đào luyện ngay từ khi còn chỉ là "người kế vị dự phòng".

Nói như thế, bởi Matthias chỉ là con thứ của cha mình - John Hunyadi, người chiến thắng quân Ottoman trận Belgrad năm 1456, chỉ là một vị tướng, chứ không phải nhân vật thuộc hoàng gia, và thậm chí còn là lãnh tụ đối nghịch với vua Ladislaus V của Hungary (thuộc dòng họ Hapsburg, có được ngai vàng nước Hung thông qua sự chỉ định của Hoàng đế Đế chế La Mã thần thánh) khi ấy.

Một hiệp sĩ của Đạo quân Đen.
Một hiệp sĩ của Đạo quân Đen.

Matthias đã trải qua một chặng đường đăng quang vô cùng rối rắm và phức tạp. Cha mất, anh của ông là Ladislaus Hunyadi trở thành người đứng đầu gia tộc, và xung đột gay gắt hơn với hoàng gia Hapsburg. 

Nhà vua ra tay trước. Ladislaus Hunyadi bị giết, còn Matthias bị bắt. Mẹ ông và cậu ông - Michael Szylagyi - dấy quân họ ngoại nổi dậy. Họ nhanh chóng chiếm lĩnh được phần lớn lãnh thổ nước Hung. 

Ladislaus V bỏ chạy về Vienna, rồi về Prague, mang theo cả Matthias. Cuộc nội chiến tiếp nối, cho đến khi Ladislaus V đột tử (năm 1457) không có người thừa kế.

Trong một diễn biến rất bất ngờ, giới quý tộc Hungary chọn Matthias làm vua của mình (theo cung cách các tuyển hầu Đức bầu chọn Hoàng đế Đế chế La Mã thần thánh). 15000 binh sĩ của người cậu Michael Szylagyi bảo đảm cho vị thế của ông vua 14 tuổi vẫn còn đang bị cầm tù ở Prague ấy, và đích thân Michael Szylagyi trở thành Nhiếp chính.

Nhiếp chính Szylagyi gửi sứ giả tới Prague, gặp George Podebrady, người dự định sẽ gả con gái cho Matthias nhằm hướng đến những mục đích chính trị, để thương thuyết việc trả tự do cho ông vua mới của nước Hung. Sáu vạn đồng florin vàng là cái giá để Matthias trở về. 

Ngay sau đó, không cần quan tâm đến việc Hoàng đế La Mã Frederick III có chấp nhận tấn phong cho mình hay không, Matthias lên ngôi với tư cách là nhà vua của một vương triều độc lập.

Đó là điểm khởi đầu của một sự nghiệp lẫy lừng, đầy nghẹt những tham vọng chinh phạt. Đó cũng là điểm phôi thai của một ý tưởng: Nước Hung cũng như nhà Hunyadi nhất định phải có một đạo quân thiện chiến, để bảo vệ chính mình. Và sau đó, Đạo quân Đen dần dần được phác thảo.

John Jyskra, bá tước vùng Brandys, người chỉ huy các lực lượng quân sự Czech đang thống trị vùng Bắc Hung, nổi lên chống lại nhà Hunyadi, nhưng bị tướng Sebastian Rozgonyi của Matthias đánh bại. Tuy nhiên, đế quốc Ottoman bất ngờ đưa quân vào vùng Serbia (lãnh thổ thuộc Hung khi ấy), rồi chiếm một vài vùng Bắc Hung. 

Một cách khéo léo, Matthias cử hai vị giám mục thân cận tới Prague phong cha vợ tương lai của mình - George Podebrady - làm vua xứ Bohemia. George Podebrady thề trung thành với Giáo hoàng ở La Mã sau sự kiện ấy, và bước vào thế đối nghịch với người Ottoman Hồi giáo, điều nước Hung cần.

Ở tuổi thiếu niên, Matthias làm tất cả bất ngờ vì sự quyết đoán của mình. Ông thuyết phục cậu mình - Nhiếp chính Szylagyi - từ bỏ vị trí, để thâu tóm toàn bộ quyền lực, nhanh chóng thiết lập cơ chế quân chủ tập quyền, chỉ vài tuần sau lễ đăng quang (năm 1458). 

Cuối năm ấy, Matthias triệu tập Quốc hội, lên kế hoạch sẵn sàng cho một cuộc chiến chống lại Ottoman. Song, âm mưu phản loạn của 30 bá tước - những người kêu gọi sự hậu thuẫn từ Đế chế La Mã thần thánh - đã ngăn cản ông thực hiện kế hoạch đó. Matthias phải trở về Buda. 

Quân đội hoàng gia non trẻ của ông thua trận, nhưng các nỗ lực ngoại giao đã bảo vệ được ngai vàng. Với mục tiêu chung chống quân Ottoman "ngoại đạo", Giáo hoàng đứng ra hòa giải Matthias và Hoàng đế La Mã Frederick III. 

Phải đến năm 1462, sau rất nhiều cuộc đàm phán căng thẳng và những thỏa thuận rắc rối, vương miện nước Hung mới chính thức được Đế chế La Mã thần thánh trao cho Matthias. Cũng năm ấy, Hoàng đế Ottoman Mehmed II xua đại quân tiến vào Wallachie (vùng lãnh thổ phía Đông Nam nước Hung, nay thuộc Romania).

Đạo quân Đen

Fekete sereg ra đời từ quãng thời gian ấy. Mốc thời gian chính xác mà nó bắt đầu hiện hữu được các sử gia phương Tây ghi nhận là năm 1458, nghĩa là ngay khi Matthias vừa lên ngôi. Trong thời điểm đó, khắp cựu lục địa, các thế lực đều sử dụng lính đánh thuê, nhưng với tính chuyên nghiệp còn rất hạn chế. 

Trong những lúc không có chiến tranh (nghĩa là không có thu nhập từ chiến tranh), đám lính ấy phải làm bánh, cày ruộng hay làm thợ… Nói cách khác, họ chỉ trở thành chiến binh theo thời vụ.

Matthias thì khác. Tri thức quân sự tích lũy được từ thời thơ ấu đã giúp ông nhận ra vai trò quyết định của một đội quân chuyên nghiệp. 

Lính Fekete Serog không cần phải làm thêm bất cứ nghề gì để kiếm sống, bởi họ được trả lương hậu hĩnh, chỉ để toàn tâm toàn ý đáp ứng những mệnh lệnh từ chủ nhân của mình. Nếu một lính đánh thuê trung bình chỉ nhận khoảng 3 florin vàng/năm, thì lính Fekete sereg được trả từ 17-20 florin. Họ, không chỉ vậy, còn được trang bị những thứ vũ khí hiện đại nhất thời bấy giờ. 

Trong thời điểm cực thịnh, cứ bốn người lính của Đạo quân Đen thì có một súng trường. Họ cũng được rèn luyện kỹ càng về các lý thuyết cũng như kỹ thuật tác chiến. Họ được chuyên biệt hóa thành bộ binh, khinh kỵ binh và kỵ binh nặng, với trang bị riêng phù hợp cho từng nhiệm vụ.

Để đạt được điều đó, trong cả đời làm vua của mình, Matthias đã luôn luôn làm cạn kiệt Quốc khố nước Hung, và làm khánh kiệt nhân dân Hung bằng những khoản thuế kinh khủng. Nhưng, bù lại, sự "hoang phí" đó được tưởng thưởng xứng đáng bằng hàng loạt chiến công oanh liệt.

Chiến thuật trên chiến trường của Đạo quân Đen được đích thân Matthias mô tả, trong bức thư gửi người cha vợ - vua Ferdinand I của xứ Naples - vào những năm 1480: "Lính mang giáp dày và khiên nặng sẽ tạo nên một chiến lũy, nhằm che đỡ cho cả bộ binh lẫn xạ thủ. Họ không bao giờ từ bỏ vị trí của mình, cho dù có bị tàn sát đến người cuối cùng. Bộ binh được trang bị nhẹ hơn sẽ cố gắng đột phá khi xung phong. Nếu mỏi mệt hoặc gặp nguy hiểm, họ sẽ trở về nghỉ ngơi hoặc ẩn náu sau bức tường đó, để tái tổ chức và hồi phục, sẵn sàng cho những đợt tấn công tiếp nối".

Cuối cùng, kỵ binh nhẹ đảm nhiệm vai trò đánh vu hồi tạt sườn, và kỵ binh nặng hủy diệt thế trận của kẻ thù.

Đó là cách Fekete sereg đã tạo nên chiến công oanh liệt nhất của họ - trận Breadfiled. Đại quân Ottoman, có cả thần công hỗ trợ, đã bất lực trong việc lay chuyển thế trận của quân Hung, để rồi bị tập kích từ mọi hướng, bị làm cho tán loạn đội ngũ, và bị giày xéo bởi kỵ binh nặng. Ước tính khoảng 15000 lính Thổ Nhĩ Kỳ thương vong trong trận đánh đó. Đổi lại, quân Hung chỉ mất khoảng 3000 người.

Với Fekete sereg, Matthias Corvinus không chỉ chặn đứng đà thôn tính của đế quốc Ottoman. 32 năm làm vua, ông điều động Đạo quân Đen giao tranh với mọi kẻ thù đe dọa quyền lực của mình. 

Từ những cuộc trấn áp các quý tộc người Czech, người Moldavia hay người Hussites qua những cuộc chiến tranh với Vương quốc Ba Lan, hầu quốc Saxony, Fekete sereg thậm chí còn nhận lệnh đương đầu với quân đội của Đế chế La Mã thần thánh, còn đánh sang cả khu vực của Giáo hoàng (Papal State, vùng quanh Roma hiện tại), và tấn công xuống tận phía nam nước Cộng hòa Venetia ngày ấy, nghĩa là phía cực nam bán đảo Italia.

Vô số những chiến thắng in dấu trong bước trường chinh ấy, đủ để Matthias nhập thêm bao nhiêu phần đất đai và dân số của châu Âu vào lãnh thổ của mình. 

Rất đáng tiếc, sau khi ông mất, ngay lập tức đội quân thiện chiến bậc nhất trong lịch sử châu Âu trung đại ấy, cũng như mọi di sản của ông, lâm vào suy thoái. Vương miện Hungary lại bị giành giật bởi các thế lực chính trị. 

Giới quý tộc nước Hung chia thành hai nửa: Nửa vẫn trung thành với nhà Hudyani, nửa quay sang thần phục Đế chế La Mã thần thánh của người Đức. 

Cũng có những quý tộc - lãnh chúa - chỉ huy quân đội liên tục đón gió trở cờ, hết theo bên này lại về bên khác. Tình cảnh này kéo dài mãi về sau, và còn được văn hào Hungary Géza Gárdonyi khắc họa sâu đậm trong bộ tiểu thuyết lừng danh Những ngôi sao thành Eger.

Đạo quân Đen, dĩ nhiên, cũng bị cuốn vào vòng xoáy ấy. Không chỉ vậy, họ còn bị bỏ rơi, và không còn được bảo đảm sự đãi ngộ cao như thời Matthias Corvinus còn sống (500.000 - 600.000 florin vàng/năm cho đạo quân ấy, một số tiền khổng lồ) nữa. Không ít bộ phận trong số họ, khi túng quẫn, trở thành những tên cường đạo đúng nghĩa. Họ đi ăn cướp của nông dân, tu viện, nhà thờ…Hệ quả tất yếu là chất lượng tác chiến của Fekete Sereg cũng nhanh chóng sụt giảm.   

Họ vẫn còn hoàn tất được vài chiến thắng cuối cùng, khi chiến đấu với người Đức và người Ba Lan, trước khi hoàn toàn sụp đổ bởi sức tấn công càng lúc càng dữ dội của quân đội Ottoman. Nhưng, chẳng cần đến bất cứ trận đại bại nào làm mốc, sự sụp đổ ấy đã được đánh dấu ngay từ khi Fekete sereg nổi loạn đòi tiền lương của mình, và chính thức bị triều đình ra lệnh giải giáp, cuối năm 1492. Kẻ bị bắt, người trốn thoát, kẻ đi lang thang vô chủ, người lại tìm đường đầu quân cho các lãnh chúa mới...

Một đoạn kết thực sự không tương xứng với danh tiếng cũng như những gì Đạo quân Đen từng thực hiện. Nhưng, điều đó cũng không có gì quá bất hợp lý. Bản chất của một đạo quân đánh thuê cuối cùng cũng đã bộc lộ rõ ràng, khi người duy nhất bảo đảm được quyền lợi cho họ không còn tồn tại. 

100 năm sau, và cho đến tận bây giờ, danh tiếng của kỵ binh nặng Fekete sereg bị che mờ bởi một đạo quân khác: khinh kỵ binh Hussar của những người láng giềng Ba Lan…

Vua Matthias Corvinus - cha đẻ của Fekete Sereg.
Vua Matthias Corvinus - cha đẻ của Fekete Sereg.

Hungary lập quốc còn sớm hơn cả nước Pháp, nước Đức hay nước Ý - những mảnh vỡ từ đế quốc Carolingen rộng lớn của Charlemagne Đại Đế (tiếng Đức: Karl, tiếng Latin: Carolus) người Frank, cũng như những vận động thành lập nhà nước thống nhất trên đảo Anh.

* Chỉ thọ 47 tuổi, nhưng trong thời gian đó, Matthias Corvinus vừa là vua của Hungary, Croatia, Bohemia, vừa là quận công Austria (Áo). Diện tích đất đai mà ông làm chủ khi đó lớn hơn cả lãnh thổ nước Pháp, với số dân đứng hàng thứ ba châu Âu.

* Trong thời gian trị vì, Matthias Corvinus bổ nhiệm và truất quyền tất cả mọi bá tước thừa hành trong triều đình của mình, qua 25 lần triệu tập Diet (một kiểu Quốc hội của nước Hungary cổ). 

* Khởi đầu, Fekete sereg chỉ gồm khoảng từ 6000 - 8000 lính đánh thuê. Cho đến ngày ông mất, lực lượng này lên đến 20000 người. Đặc biệt, ở trận đại chiến thành Vienna, Đạo quân Đen xung trận với 20000 kỵ binh và 8000 kỵ binh. Đó là đội quân chuyên nghiệp lớn nhất châu Âu thời điểm đó, hơn cả quân đội của vua Louis XI nước Pháp.

* Kỵ binh nặng của Đạo quân Đen được trang bị một thương dài (có thể tới 4m), một kiếm lớn (có thể dài 130 - 40 cm), cùng những vũ khí cận chiến tùy chọn như chùy, búa, hoặc có thể cả bộ cung tên hay khiên nhỏ.

* Cung được trang bị cho kỵ binh nhẹ của Đạo quân Đen là loại cung truyền thống của người Magyar, có sức đàn hồi cùng uy lực lớn hơn cung của quân đội Ottoman.

Thiên Phong

Các tin khác

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không trong thời đại mới

Trinh thám trên không đã và đang là một trong các nhân tố chủ đạo trong chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện dày đặc của nhiều mẫu máy bay không người lái (UAV) phục vụ công tác tình báo, theo dõi và do thám (ISR) trên chiến trường lại càng khẳng định vai trò của trinh thám trên không.

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Mặt Trăng đang trở thành chiến trường quyền lực mới

Sau hơn nửa thế kỷ, con người sắp in dấu chân trở lại Mặt Trăng. Tuy nhiên, “lục địa thứ 8” giờ đây đang chật chội hơn trước rất nhiều. Đấy không chỉ là cuộc đối đầu song phương giữa Mỹ và Liên Xô như thời Chiến tranh lạnh, mà đã trở thành một sân chơi đa cực với sự tham gia quyết liệt của nhiều quốc gia và cả những liên minh.

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Khi AI vừa là mũi giáo vừa là tấm khiên?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần thoát ly khỏi vai trò công cụ hỗ trợ để trở thành tác nhân cốt lõi làm thay đổi diện mạo an ninh mạng toàn cầu. Từ khả năng tìm kiếm lỗ hổng bảo mật với tốc độ ánh sáng của các mô hình ngôn ngữ lớn đến những "tác nhân AI" tự vận hành cuộc tấn công, trí tuệ nhân tạo đang mang đến những thách thức chưa từng có trong lĩnh vực này.

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Kinh tế thế giới trước ngã rẽ khủng hoảng đa chiều?

Diễn ra từ ngày 13 tới ngày 18/4, Hội nghị Mùa xuân do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đồng tổ chức thu hút sự tham gia của hơn 190 bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cùng hàng nghìn đại diện các tổ chức quốc tế, học giả và doanh nghiệp. Những cuộc thảo luận của giới tài chính toàn cầu ở Washington lần này đã khép lại với những cảm giác ảm đạm, song hành với sự đồng thuận thay đổi rõ rệt trong nhận thức chung: Cộng đồng tài chính quốc tế đã và đang buộc phải chuyển sang chế độ quản lý khủng hoảng, trong khi guồng máy kinh tế thế giới đối mặt với sự rạn nứt cấu trúc sâu sắc, thay vì chỉ là một đợt suy thoái mang tính chu kỳ.

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức và tham vọng làm chủ “chiến trường thủy tinh”

Quân đội Đức đang đẩy nhanh lộ trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng vệ tinh quy mô lớn nhằm biến chiến trường trở nên "trong suốt như thủy tinh". Với tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm, họ kỳ vọng sẽ rút ngắn chu kỳ ra quyết định từ nhiều ngày xuống còn vài phút, tạo ra lợi thế áp đảo trước các đối thủ tiềm tàng thông qua khả năng quan sát vượt trội và phản ứng tốc độ cao.

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Chuyện “trong nguy có cơ” tại eo biển Hormuz

Eo biển Hormuz, "yết hầu năng lượng" của thế giới, là nơi chứng kiến khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 15 - 20% nguồn cung toàn cầu, được trung chuyển mỗi ngày. Kể từ cuối tháng 2/2026, khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát, trật tự quen thuộc nhanh chóng bị phá vỡ. Số lượng tàu qua lại eo biển giảm mạnh, từ khoảng 135 chuyến/ngày xuống chỉ còn trung bình khoảng 6 chuyến/ngày trong tháng 3/2026, thậm chí có thể còn thấp hơn. Thị trường năng lượng chịu một cú sốc nguồn cung rõ rệt, giá dầu Brent tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng và kéo theo áp lực lạm phát lan rộng.

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Giải mã những vũ khí lần đầu thực chiến trong xung đột tại Iran

Từ hệ thống đánh chặn bằng tia laser Iron Beam, tên lửa PrSM, phi đội drone tự hành Lucas cho tới tên lửa siêu vượt âm Fattah-2, cuộc xung đột tại Iran đã trở thành nơi trình làng hàng loạt vũ khí thế hệ mới. Các khí tài này tham gia rất hiệu quả vào các kịch bản tác chiến cường độ cao, tạo ra những khác biệt rõ rệt trên chiến trường.

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Trái đất “cựa mình”, AI sẽ lên tiếng

Những vết nứt nhỏ trên bậc thềm, những thân cây nghiêng bất thường hay lớp tuyết lặng lẽ tích tụ trên sườn núi - tất cả từng là dấu hiệu khó nhận biết của thảm họa. Nhưng giờ đây, khi Trái Đất chuyển động, trí tuệ nhân tạo đang giúp con người nhìn thấy những điều tưởng như vô hình, mở ra cơ hội cứu sống hàng nghìn sinh mạng mỗi năm.

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Tiền lệ pháp lý định hình lại kỷ nguyên mạng xã hội

Một phán quyết mang tính bước ngoặt tại Mỹ đã lần đầu tiên buộc hai ông lớn ngành công nghệ là Meta và Google phải chịu trách nhiệm không phải vì những gì người dùng đăng tải, mà vì chính cách các nền tảng này được thiết kế để cuốn người trẻ vào những vòng lặp vô tận của màn hình điện thoại. Được ví như "khoảnh khắc thuốc lá" của thế kỷ 21, phán quyết này mở ra làn sóng kiện tụng và siết chặt pháp lý để kiểm soát cách thức các nền tảng số được thiết kế và vận hành.

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Khi cỗ máy tự quyết định, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Vào năm 1942, khi thế giới còn đang chìm trong khói lửa của Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà văn khoa học viễn tưởng Isaac Asimov đã thai nghén một ý tưởng đầy tính nhân văn: "Ba định luật Robot". Đó là bộ quy tắc được "cài đặt" trong bộ não của robot để đảm bảo chúng không làm hại con người. Hơn 80 năm sau, thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mà những cỗ máy biết tự "suy nghĩ" và "hành động" không còn là nhân vật trong tiểu thuyết. Câu hỏi được đặt ra lúc này là liệu chúng ta có cần một bộ luật tương tự để bảo vệ chính chúng ta khỏi những cỗ máy?

Chiếc kính thiên lý

Chiếc kính thiên lý

Kính thiên lý (kính viễn vọng) được đưa vào Việt Nam sớm nhất qua các giáo sĩ phương Tây và thương nhân trong thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII). Sử sách cho biết, các chúa Nguyễn đã mua loại kính này để phục vụ quân đội và làm phần thưởng cho các tướng lĩnh.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Đằng sau nghề thương thuyết ransomware

Mối họa từ phần mềm độc hại chuyên dùng để tống tiền (ransomware) ngày càng trở nên cấp bách. Công ty Nghiên cứu an ninh mạng Cybersecurity Ventures (Mỹ) thống kê được giá trị thiệt hại mà các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn cầu phải chịu vì ransomware đã lên tới 57 tỷ USD trong năm 2025. Ransomware nở rộ cũng kéo ngành an ninh mạng phát triển theo, trong đó nổi bật là lĩnh vực thương thuyết. "Nghề" thương thuyết với tin tặc đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới an ninh mạng toàn cầu.

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Làn sóng tội phạm mạng thứ năm: Khi AI trở thành “mạch máu” của thế giới ngầm

Trong vài năm gần đây, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đã thúc đẩy một bước chuyển biến chưa từng có trong lịch sử tội phạm mạng: từ công cụ hỗ trợ đến cơ sở hạ tầng cốt lõi của các chiến dịch tấn công quy mô toàn cầu. Quá trình này không chỉ khiến các hệ thống an ninh đối mặt với mức độ tinh vi mới, mà còn đặt ra những thách thức chính sách, pháp luật và thực thi mà chưa một thời đại số nào từng chứng kiến.

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Bùng nổ xung đột Pakistan - Afghanistan: Ngọn lửa mâu thuẫn chưa tắt hai bên đường Durand

Những cuộc bắn phá ác liệt dọc biên giới Pakistan - Afghanistan những ngày gần đây không phải là một biến cố bất ngờ, mà là sự bùng phát mới của một mâu thuẫn kéo dài hơn một thế kỷ. Từ đường Durand lịch sử, vấn đề sắc tộc Pashtun bị chia cắt, cho tới sự trỗi dậy của các nhóm vũ trang xuyên biên giới sau khi Taliban trở lại nắm quyền năm 2021, nhiều lớp xung đột chồng chéo lên nhau, biến khu vực thành một trong những điểm nóng nguy hiểm nhất của Nam Á.

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Tuyển bổ quan lại thực thi pháp luật thời xưa

Ngay từ đầu triều Hậu Lê, Vua Lê Thái Tông đã nói với quần thần rằng: "Phép trị nước lấy hình pháp gọn nhẹ làm gốc. Các quan xét xử phải giữ phép công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng. Các vụ kiện lớn thì mới cho tâu thẳng lên".

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Cơn sốt AI và cuộc thanh lọc cần thiết

Sau hơn 3 năm hưng phấn tột độ kể từ cơn địa chấn ChatGPT thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư khắp thế giới, cơn sốt trí tuệ nhân tạo (AI) đã bắt đầu lắng xuống. Với một cái nhìn thực tế hơn, giới chuyên môn đã đặt ra một câu hỏi mới: Liệu cơn sốt AI có phải là một bong bóng sắp nổ, hay đây thực sự là nền tảng cho một kỷ nguyên tăng trưởng mới?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Phục dựng di tích điện Kính Thiên?

Cuối tháng 12/2025, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả sơ bộ khai quật khảo cổ khu vực nền điện Kính Thiên năm 2025. Kết quả này cho thấy nhiều thông tin giá trị, bổ khuyết cho nhiều kiến giải trước đây. Nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã thực sự đủ cơ sở tư liệu khoa học để góp phần nghiên cứu phục dựng di tích điện Kính Thiên? Câu chuyện này sẽ cần thời gian dài mới có thể trả lời một cách thỏa đáng.

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa trong pháp luật thời xưa

Ngựa là loài vật gần gũi trong cuộc sống người Việt từ lâu, không chỉ dùng để kéo xe mà còn là phương tiện nghi lễ, giao thông và đánh trận, do đó, nó cũng được xuất hiện khá nhiều trong hình luật thời xưa.

Tản mạn Thần Bạch Mã

Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.