Giáo với tướng lĩnh
Trong chiến trận, giáo chuyên dùng để quân lính đánh xa, tiện hơn gươm đao. Giáo còn có thể khắc chế cả kỵ binh, ngoài ra còn có thể đâm, phóng. Do đó, từ phương Đông đến phương Tây, giáo được sử dụng rộng rãi trong quân đội.
Các di chỉ khảo cổ từ thời Đông Sơn ở nước ta cho thấy có rất nhiều mũi giáo đồng, chứng tỏ giáo mũi đồng là vũ khí tấn công cận chiến vô cùng quan trọng của người Việt cổ. Trên trống đồng Đông Sơn, cũng có thể thấy người xưa khắc họa hình ảnh những chiến binh với các vũ khí rìu, giáo trên tay.
Để động viên các tì tướng dưới trướng của mình, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã viết trong bài hịch văn nổi tiếng của mình, nhắc nhở những gương hy sinh dũng cảm vì nước thời xưa: “Ta từng nghe, Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu giơ lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu vương...”.
Cây giáo cũng được xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn thơ yêu nước nổi tiếng của đất nước. Trong bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư”, Thái sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải đã viết khúc ca chiến thắng sau khi quân dân nhà Trần đánh tan quân Nguyên xâm lược:
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu nỗ lực,
Vạn cổ thử giang san.
(Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù/ Thái bình nên nỗ lực/ Non nước ấy nghìn thu - Trần Trọng Kim dịch).
Để nói lên khí phách của nam nhi nước Nam, Thượng tướng Phạm Ngũ Lão, trong bài thơ “Thuật hoài”, đã tự tả về tư thế ngạo nghễ:
Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
(Ngọn giáo non sông trải mấy thâu/ Ba quân hùng hổ khí thôn Ngưu/ Công danh nếu để còn vương nợ/ Luống thẹn tai nghe truyện Vũ hầu - Phan Kế Bính dịch)
Cây giáo, chữ Hán là “sóc” hay “sáo”, ngoài ra còn có chữ “qua”, bên ngoài nghĩa là giáo, thương, còn được dùng chung chỉ các loại vũ khí cán dài như mâu, mác, lao. Thời Lê sơ, danh thần Nguyễn Trãi, trong bài “Bạch Đằng hải khẩu”, đã mô tả:
“Ngạc đoạn kình khô sơn khúc khúc,
Qua trầm kích chiết ngạn đồi đồi”.
(Kình ngạc băm vằm non mấy khúc/ Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng).
Cây giáo xuất hiện trong sử sách nước ta từ thời nhà Triệu. Trong “Đại Việt sử ký toàn thư” có chép là nước Nam Việt thời Vua Triệu Ai vương thường sử dụng “qua thuyền” chở quân lính và giải thích rằng: “Người Việt dùng thuyền lớn đi trong nước; lại vì có nạn giao long làm hại, nên phải cắm cây giáo ở dưới đáy thuyền; vì thế gọi là "qua thuyền””. Tuy nhiên, cũng có chú thêm rằng thư của Ngũ Tử Tư nói dùng “qua thuyền” để chở lá mộc và giáo mác. Do đó, có tên gọi là "qua thuyền".
Giáo trong tay vua
Trong vụ án nổi tiếng “Thái sư hóa hổ” dưới triều Lý, sử sách ghi vị vua nhân từ Lý Nhân Tông dùng giáo để tự vệ. “Toàn thư” ghi chi tiết về sự kiện diễn ra vào tháng 3, năm Hội Phong thứ 5 (1096) đó như sau: “Vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: "Việc nguy rồi!". Người đánh cá là Mạc Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh”.
Đặc biệt, đến vị vua gần cuối triều Lý là Lý Huệ Tông thì sử sách ghi lại hình ảnh nhà vua cầm giáo và khiên múa may của một... người điên. Sử ghi: “Năm Kiến Gia thứ 7 (1217), tháng 3, vua dần dần phát điên, có khi tự xưng là thiên tướng giáng, tay cầm giáo và mộc, cắm cờ nhỏ vào búi tóc, đùa múa từ sớm đến chiều không nghỉ, khi thôi đùa nghịch thì đổ mồ hôi, nóng bức khát nước, uống rượu ngủ li bì đến hôm sau mới tỉnh. Chính sự không quyết đoán, giao phó cả cho Trần Tự Khánh. Quyền lớn trong nước dần dần về tay kẻ khác”. Mô tả vua đời trước như vậy, chắc để việc chuyển quyền sang họ khác cho được chính danh.
Còn trước đó, từ thời Vua Lý Thái Tông mới lên ngôi (năm 1028), sau khi dẹp cuộc phản loạn của 3 người em là các vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh, nhà vua đã sai dựng miếu thờ thần Đồng Cổ bên hữu thành Đại La, bắt tất cả các quan trong triều sáng ngày 25/3 đến làm lễ trước thần vị, cùng thề: "Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết". Để chuẩn bị cho nghi lễ tuyên thề thì trước đó quân lính phải đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, và trước thần vị thì treo gươm giáo cho trang trọng.
Về quy định vũ khí trong quân đội thời Lê sơ, theo chiếu chỉ do Vua Lê Thái Tổ ban bố ngay sau khi vừa lên ngôi năm 1428, thì mỗi quân có 10 chiếc thuyền hỏa chiến, 2 chiếc thuyền nhỏ trinh sát, 1 chiếc ống phun lửa "Đại tướng quân", 10 ống phun lửa cỡ lớn, 10 chiếc cỡ trung, 80 chiếc cỡ nhỏ, nỏ cứng 50 chiếc, câu liêm 50 cái, giáo dài 50 cái, phi liêm 40 cái, mộc mỗi người 1 chiếc, phiêu thì mỗi người dùng 4 thủ tiễn (lao tay để ném) hạng nhất, hạng nhì thì mỗi người dùng 3 chiếc, đại đao thì mỗi người dùng 1 thanh.
Cây giáo cũng là một loại vật làm tin mà vua trao cho sứ giả. Đời Vua Lê Uy Mục, năm Đoan Khánh thứ 5 (1509), khi Giản Tu công Lê Dinh trốn về Thanh Hóa dấy binh chống lại triều đình, nhà vua điều động các quân đều không chống lại được. Thậm chí, vị vua này còn sai lấy vàng bạc, tiền phát cho tù nhân bị giam ở Ty Ngũ hình để sai đi đánh giặc, nhưng họ nhận tiền xong đều... trốn về nhà. Cùng đường, Vua Uy Mục mới sai Trung sứ và Hoa văn học sinh, mỗi ty 2 người mang sắc phù đến các đô ty Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Băng, bắt mỗi trấn lấy 5.000 thổ binh để phòng đánh giặc. Những người nhận sắc phù đi, vua cho mỗi người một chiếc giáo ngắn ngự tiền sơn son để tùy thân. Bọn này chưa đến các xứ Bồ Đề, Xuân Canh thì quân của Lê Dinh đã tiến vào sát thành, mọi người đều chạy trốn.
Chết dưới mũi giáo
Trong số các vị vua nước Việt, Vua Lê Tương Dực có cái kết bi đát, khi bị hạ sát dưới mũi giáo của quân phản loạn. Nguyên do vì Trịnh Duy Sản vì nhiều lần can ngăn trái ý vua, bị đánh bằng trượng. Duy Sản căm giận, mới cùng với bọn Lê Quảng Độ, Trình Chí Sâm mưu việc phế lập, bèn sửa soạn thuyền bè, khí giới ở bến Thái Cực, nói phao lên là đi đánh giặc. Năm Hồng Thuận thứ 8 (1516), tháng 4, đêm mồng 6, canh 2, Sản đem hơn 3.000 người ở các vệ Kim ngô và Hộ vệ vào cửa Bắc Thần. Vua nghe tin ấy, ngờ là có giặc đến, bèn ngự ra ngoài cửa Bảo Khánh. Ngày mồng 7, mờ mờ sáng, có Thừa chỉ Nguyễn Vũ theo vua đi tắt qua cửa nhà Thái Học. Đến hồ Chu Tước, phường Bích Câu, vua gặp Duy Sản và hỏi: "Giặc ở phương nào?". Duy Sản không trả lời, quay nhìn chỗ khác, cười ầm lên. Vua quất ngựa chạy về phía Tây. Duy Sản sai vũ sĩ tên Hạnh cầm giáo đâm vua ngã ngựa rồi giết chết.
Trịnh Duy Sản có lẽ là một vị tướng sử dụng giáo nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Trước khi phản lại Vua Lê Tương Dực, năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), Duy Sản theo lệnh vị vua này đi dẹp cuộc nổi loạn của Trần Tuân ở vùng ngoại thành Từ Liêm, lập được đại công. Lúc đó, quân của Duy Sản bị giặc đánh bại, thủ hạ chỉ còn hơn 30 người, bèn xé áo làm hiệu, thề cùng nhau đánh giặc. Giờ Dậu (lúc chập tối), Duy Sản thình lình dẫn quân xuất hiện, đột nhập vào dinh của Tuân, thấy Tuân mặc áo đỏ ngồi trên giường, liền dùng giáo đâm chết Tuân, bè đảng của Tuân đều tan chạy cả. Bấy giờ quân lính của Tuân đóng ở chỗ khác, không biết là nghịch Tuân đã chết, vẫn cứ đóng quân như trước. Sau trận đó, quân triều đình đại thắng, Trịnh Duy Sản được phong tước Nguyên quận công, những người đi theo Duy Sản đâm chết được nhiều giặc đều được trao chức đô chỉ huy đồng tri. Việc xét quân công có lệ người nào giết được nhiều giặc thì được trao quan chức bắt đầu từ đó.
Vị vua cuối cùng của triều Lê sơ cũng suýt mất mạng dưới mũi giáo. Đó là Vua Lê Chiêu Tông. Năm 1522, Vua Chiêu Tông đóng trong thành Thăng Long, chống lại Mạc Đăng Dung lúc đó đã lập em vua là Hoàng đệ Xuân lên làm vua khác. Lúc Vua Chiêu Tông đang coi chầu, thì đồ đảng của giặc là bọn Hưng Hiền 4 người mang mộc, cầm giáo từ phường Phục Cổ đánh thẳng vào điện Thụy Quang, là hành điện chỗ nhà vua đang ở. May có Tổng tri Trịnh Ân cấp báo rằng: "Quân giặc đã đến nơi rồi" và các vệ sĩ ra sức chống cự, vua mới rút lui được về làng Nhân Mục, trong khi trăm quan đều tan tác cả.
Thời Lý, viên thái úy quyền thần Đỗ Anh Vũ cũng suýt bị mất mạng từ mũi giáo của một viên tướng. Lúc đó, Đỗ Anh Vũ đã bị các tướng là Điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái, Hỏa đầu đô Quảng Vũ là Lương Thượng Cá, Hỏa đầu đô Ngọc Giai là Đồng Lợi, Nội thị là Đỗ Ất, cùng với bọn Trí Minh Vương, Bảo Ninh hầu, Phò mã lang Dương Tự Minh bắt giam Đỗ Anh Vũ. Hỏa đầu ở đô Tả Hưng Thánh là Nguyễn Dương đã cầm giáo định đâm Đỗ Anh Vũ, nhưng bị Đô Tả Hưng Thánh là Đàm Dĩ Mông ôm lại, cướp lấy giáo, ngăn rằng: "Điện tiền bảo Đỗ Anh Vũ tội đáng chết, nhưng còn phải đợi mệnh lệnh của vua, không nên tự tiện". Nguyễn Dương giận, chửi một câu, rồi đâm đầu xuống giếng tự tử.
Thoát được mũi giáo này, chẳng lâu sau Đỗ Anh Vũ lại được khôi phục quyền lực như cũ và trả thù tất cả các vị tướng đã bắt mình, hầu hết đều bị chém hay đày đi châu xa.