Voi - Biểu tượng thiêng!

Đồng bào Tây Nguyên xưa coi voi vừa là vật thiêng (làm lễ cúng sức khỏe voi), vừa là vật nuôi để chuyển gỗ, hàng hóa… Nhưng nơi voi được “thiêng hóa” hơn cả là Ấn Độ. Trong Ấn Độ giáo, biểu tượng voi có rất nhiều lớp mã văn hóa mà có lẽ bóc mãi vẫn chưa đi tới cuối cùng. Là vật cưỡi của vị thần tối cao Inđra, voi xuất hiện vô cùng đa dạng về hình vẻ, phong phú về tâm trạng, giàu có về ý nghĩa trong các loại hình nghệ thuật, đặc biệt trong kiến trúc.

Ngày trước khi mà đất đai rộng rãi, nguồn thức ăn cây cỏ còn dồi dào, thì voi là vật nuôi, tuy không phổ biến như trâu bò nhưng cũng gần gũi với con người. Truyện “Thầy bói xem voi” kể bốn thầy bói nhân ngày ít khách bèn hùn tiền để “xem voi”. Thầy này nhận xét con voi như cái đòn càn. Thầy kia nói con voi như cái chổi xể… Thầy nào cũng “đúng” cả vì “thầy” chỉ “trực quan” một bộ phận.

Ngụ ngôn thâm thúy dạy ta khi đánh giá sự vật, hiện tượng nào đều phải đặt vào tính hệ thống, còn tách rời ra thì sai bét cả. Câu chuyện còn cho thấy con voi thời đó đến “người mù” còn “biết”, tức là rất thường gặp. Thế nên có nhiều thành ngữ dân gian mượn “voi” để ngụ ý, như “khỏe như voi” ý nói rất khỏe. “Được voi đòi tiên” ngoài sự cho thấy voi là “vật quý” còn để chỉ sự tham lam, đã được cái quý rồi lại còn đòi hỏi cái quý hơn. “Mười voi không được bát nước xáo” chỉ những người khoác lác, “phổi bò”, không thực chất. “Đầu voi đuôi chuột” nói về sự việc mang tính khoa trương, lúc đầu “to đùng”, về sau “bé tẹo”… Đại để những thành ngữ như vậy mang nội dung giáo huấn, giáo lý, còn nói về một thực tế: voi luôn có mặt trong đời sống.

image004.jpg -1
Một nghi lễ cúng cầu sức khỏe voi ở Tây Nguyên.

Những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước, trong sách giáo khoa lớp 9 phổ thông có in bài “Con voi ở công viên Thủ Lệ” của nhà văn Ngô Văn Phú kể về nhân vật con voi A Khâm từng là “chiến sĩ” trên chiến trường, hòa bình voi phải về công viên “làm cảnh” cho người đời xem. Câu chuyện toát ra bài học biết ơn, nhớ ơn thấm thía, xúc động. Không chỉ con người mới biết nhớ ơn nhau mà còn phải biết ơn tự nhiên, các động vật, sinh vật đã cùng mình tồn tại, nuôi sống mình… Hình như điều ấy ở các nước láng giềng gần gũi như Lào, Thái Lan… chú ý hơn nên số lượng voi vẫn còn nhiều. Ở ta thì ít hẳn, cả voi nhà lẫn tự nhiên đều giảm đến mức báo động.

Ở châu Á từ lâu đã biết sử dụng voi phục vụ cho đời sống, đặc biệt là trong việc quân sự. Nhìn vào bàn cờ tướng - một mô hình tối giản của nhà nước phong kiến xưa thì “tịnh/tượng” (voi) luôn bên cạnh (để bảo vệ) “tướng” (vua), chỉ sau “sĩ” (bộ phận tham mưu). Truyền thuyết “Sơn Tinh - Thủy Tinh” kể, để cầu hôn được Mỵ Nương, người đó phải có sính lễ, đủ “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” đem dâng vua Hùng.

Hiện ở làng Cam Lâm (xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội) gần lăng Ngô Quyền vẫn còn rặng duối, theo các nhà khoa học thì có tuổi thọ tới ngàn năm. Điều này phù hợp với truyền thuyết đây là nơi Ngô Quyền từng buộc voi chiến, ngựa chiến trong sự nghiệp lẫy lừng đánh đuổi quân Nam Hán. Tranh dân gian minh họa Hai Bà Trưng đánh giặc luôn vẽ Hai Bà cưỡi trên lưng voi. Ngày nay đền Hai Bà Trưng (Mê Linh – Hà Nội), tọa lạc trên một khu đất cao, rộng, thoáng, theo truyền thuyết, khu đất này có hình dáng giống một con voi trắng đang uống nước. Trong sân đền vẫn còn một hồ nước đầy, dân gian gọi là hồ Mắt Voi. Tại sao lại là “voi trắng”? Rất có thể là “phái sinh” từ một huyền tích Phật giáo!

Chỉ bằng hai câu lục bát nhưng ca dao đã tạc vào lịch sử anh hùng của dân tộc hình ảnh Bà Triệu đuổi giặc: “Muốn coi lên núi mà coi/ Có Bà Triệu Ẩu cưỡi voi, đánh cồng”. Lịch sử thời Trần đánh giặc Nguyên ghi công Dã Tượng (từ Hán Việt nghĩa là “voi rừng”) là một trong 5 mãnh tướng của Trần Hưng Đạo, có tài thuần phục, huấn luyện, chỉ huy đội tượng binh gồm những thớt voi chiến hùng mạnh đã đánh tan những đội kỵ binh quân Nguyên thiện chiến.

Dã sử kể, một lần trên đường hành quân, con voi chở Hưng Đạo Đại vương bị sa lầy, chìm dần xuống bùn, biết không thể đi tiếp con voi vươn vòi về phía trước ý nói Đại vương đi trước còn mình chịu chết chìm ở đây. Sau chiến thắng, Hưng Đạo vương sai người lập miếu thờ con voi dũng cảm và ân nghĩa ấy. Cũng là cách giáo dục con cháu phải biết kính trọng cả những con vật, rất đúng với tinh thần của “Phê bình sinh thái” mà cả thế giới hiện đang hưởng ứng.

Hình tượng voi cũng góp vào sự tô thắm thêm chiến công mang tính huyền thoại của Anh hùng Quang Trung. Truyền thuyết kể, Nguyễn Huệ được tặng một con voi đực dữ, rất thông minh, nhiều quản tượng giỏi vẫn không thể leo lên lưng nó. Đến khi nữ tướng Bùi Thị Xuân huấn luyện, nó ngoan ngoãn trở thành con voi thiện chiến nhất trực tiếp phục vụ Chủ tướng Nguyễn Huệ. Với cặp ngà to dài, trắng bóng, nhọn hoắt, mỗi lần ra trận voi rống vang, xông lên, cùng người anh hùng lập bao chiến công, đuổi quân Thanh, dẹp quân Xiêm... Nghĩa quân gọi voi là “ông Ầm”. Quân thù cứ nghe tiếng “ông Ầm” là đã kinh hồn bạt vía. Vua Quang Trung chẳng may mất sớm, “ông Ầm” bỏ ăn, buồn bã. Sau ngày theo đoàn cấm binh đưa nhà vua về nơi an nghỉ, “ông Ầm” bỏ đi vào núi...

Là con vật có ích, tình cảm, thông minh nên từ lâu voi đi vào các loại hình nghệ thuật dân gian để trở thành một hình tượng gần gũi, quen thuộc. Nước bạn Lào coi voi là “linh vật”, lấy voi làm tên nước (Triệu Voi, Vạn Tượng). Đất nước Thái Lan coi voi là biểu tượng cho tôn giáo, dân tộc và hoàng gia, còn là biểu tượng cho sức mạnh, sự thịnh vượng và hạnh phúc. Voi được tôn sùng đến mức hình ảnh voi trắng xuất hiện trên quốc kỳ Thái Lan (đầu thế kỷ XX).

Ở ta, hình ảnh voi có trên mặt trống đồng Đông Sơn, trên dao găm đồng… Di chỉ khảo cổ Làng Vạc (Nghệ An) tìm thấy cây đèn cổ (cách nay trên dưới 2.500 năm) có đế là một tượng voi. Trong văn hóa thời Lý - Trần, voi xuất hiện nhiều trên các đồ gốm, đồng, đá… Trong các truyện cổ tích Việt, các chú voi to lớn, khỏe mạnh, tốt bụng có phần vô tâm, ngờ nghệch… Lý giải voi là thú hoang dã, dễ thuần hóa để thành con vật có ích, kho tàng cổ tích Tây Nguyên kể, tận xa xưa voi vốn là người. Một lần dân bản nọ tát cái đầm trong rừng sâu bắt cá, không biết đấy là cá thần, họ bèn nướng lên ăn mà biến thành voi…

Rất nhiều cổ tích trên thế giới chung môtip ngụ ngôn “kiến và voi” kể voi cậy mình to khỏe nên kiêu ngạo coi thường mọi vật. Lần ấy gặp đàn kiến không chịu tránh, voi liền lấy chân giẫm kiến. Kiến liền tản ra leo lên người, chui vào tai voi mà cắn, mà đốt… Cuối cùng, voi đành quỳ xuống chịu thua kiến. Từ đó voi sợ, trước khi ăn bất cứ thứ gì, phải lấy vòi rũ kỹ, sợ trong đó có kiến. Câu chuyện răn dạy người ta phải biết khiêm tốn, biết mình biết người, thấy người nhỏ yếu mà bắt nạt sẽ dễ gặp hậu quả khôn lường…

Là động vật trên cạn lớn nhất thế giới hiện nay còn sống, voi châu Phi có thể cao tới 3m, nặng trên dưới 5 tấn. Voi châu Á nhỏ hơn, cao dưới 3m, nặng 3, 4 tấn. Có nhận thức giống như con người, nhớ rất rõ bạn bè cũng như kẻ thù, sống theo tập quán mẫu hệ, có tính xã hội cao, theo các nhà nghiên cứu, voi cũng có lòng vị tha và lòng trắc ẩn. Trong đàn có một con buồn, những con khác sẽ đáp lại bằng những tiếng gọi, mục đích để an ủi, chia sẻ. Voi có ngôn ngữ, ký hiệu riêng, “giọng nói” riêng với những âm thanh trầm, bổng khác nhau, giao tiếp với nhau bằng các chuyển động cơ thể và các cử chỉ. Khi cảm thấy lo lắng, bồn chồn, voi sẽ dùng vòi chạm vào tai, chà xát vào ngà để giữ bình tĩnh…

Đồng bào Tây Nguyên xưa coi voi vừa là vật thiêng (làm lễ cúng sức khỏe voi), vừa là vật nuôi để chuyển gỗ, hàng hóa… Nhưng nơi voi được “thiêng hóa” hơn cả là Ấn Độ. Trong Ấn Độ giáo, biểu tượng voi có rất nhiều lớp mã văn hóa mà có lẽ bóc mãi vẫn chưa đi tới cuối cùng. Là vật cưỡi của vị thần tối cao Inđra (thần Sấm sét, thần Chiến tranh, thần Hộ mệnh), voi xuất hiện vô cùng đa dạng về hình vẻ, phong phú về tâm trạng, giàu có về ý nghĩa trong các loại hình nghệ thuật, đặc biệt trong kiến trúc. Hình ảnh vị thần Ganesha đầu voi mình người mời gọi cả thế giới chiêm ngưỡng, tìm hiểu. Hình bóng con voi Ấn Độ giáo lan sang văn hóa Chăm (Việt Nam) in đậm dấu ấn vào kiến trúc chùa chiền, tượng, phù điêu, đất nung…

image002.jpg -0
Hình ảnh “Đức Phật nhập Mẫu thai”.

Truyền thuyết Phật kể hoàng hậu Mada nằm mơ một “thớt” voi trắng trên trời bay vào bụng, từ đó bà đậu thai. Truyền thuyết này cắt nghĩa voi là biểu tượng cho quá trình “tâm thức”: khởi đầu tu tập như chú voi xám hoang dã. Khi hoàn thành tốt việc tu tập, đã “tỉnh thức”, được tượng trưng bằng một con voi trắng mạnh mẽ, trí tuệ. Với tầm ý nghĩa phổ quát, biểu tượng vươn ra ngoài mảnh đất văn hóa xã hội để chỉ con người nói chung cần biết khắc phục, loại bỏ những gì non dại, yếu kém để vươn tới sự minh triết sáng láng.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).