Viện Kurchatov, chiếc nôi năng lượng hạt nhân Nga

Viện Kurchatov là trung tâm của chương trình vũ khí nguyên tử Liên Xô trong những năm 1940, nhưng sau đó chuyển sang nghiên cứu dân sự vào những năm 1950. Ngày nay, Viện Kurchatov là một trong những Trung tâm Nghiên cứu Nhà nước Nga. Năm 2018, Viện kỷ niệm 75 năm thành lập.

"Các lò phản ứng hạt nhân được thiết kế trong các bức tường của Viện và được sử dụng trong các ngành công nghiệp, đóng tàu, y học, vũ trụ và quốc phòng của chúng ta, đã trở thành biểu tượng của quyền lực nhà nước chúng ta" - Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu tại lễ kỷ niệm.

"Phòng thí nghiệm số 2"

Được coi là một phòng thí nghiệm tuyệt mật để phát triển bom hạt nhân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới lần 2, Viện Kurchatov không chỉ hoàn thành mục tiêu chính của mình mà còn tạo ra hàng chục sáng kiến khoa học bao gồm bom nhiệt hạch đầu tiên trên thế giới và nhà máy điện hạt nhân công nghiệp đầu tiên trên thế giới. Từ quả bom hạt nhân đầu tiên của Liên Xô cho đến sự xuất hiện của Internet Nga - Viện Năng lượng nguyên tử Kurchatov đã là nơi sản sinh ra sự đổi mới ở Nga.

Được thành lập vào năm 1943, Viện Kurchatov ban đầu được đặt tên là "Phòng thí nghiệm số 2". Một tiêu đề không rõ ràng như vậy được thiết kế để giữ bí mật công việc của cơ quan - nhưng điều quan trọng hơn tất cả chính là nó được thành lập để phát minh ra quả bom hạt nhân đầu tiên của chính quyền Xôviết.

Trong tất cả các tài liệu, phòng thí nghiệm được liệt kê là "phân xưởng lắp ráp", và uranium được gọi là… silicon. Tất cả những người tham gia dự án phải trải qua một hệ thống kiểm tra an ninh cực kỳ gắt gao, phức tạp, đồng thời phải ký vào luật bí mật chính thức của Liên Xô. Chỉ đến năm 1960, Viện mới được đặt theo tên của Igor Kurchatov - nhà vật lý hạt nhân xuất sắc nhất của Liên Xô và lãnh đạo đầu tiên của cơ quan.

Viện Kurchatov và tượng Iror Kurchatov.
Viện Kurchatov và tượng Iror Kurchatov.

Theo lệnh của Kurchatov, trong 15 năm đầu tiên làm việc trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học Liên Xô không chỉ đạt được mục tiêu ban đầu và tạo ra quả bom hạt nhân đầu tiên của Liên Xô (năm 1949) mà còn phát triển máy gia tốc Cyclotron đầu tiên ở Moscow (năm 1944), lò phản ứng hạt nhân đầu tiên ở Châu Âu (năm 1946), quả bom nhiệt hạch đầu tiên trên thế giới (năm 1953), nhà máy điện hạt nhân công nghiệp đầu tiên trên thế giới (năm 1954), lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của Liên Xô cho tàu ngầm (năm 1958) và tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới (năm 1959). Kurchatov có một tính cách mạnh mẽ đã truyền cảm hứng cho các đồng nghiệp của mình.

Những người biết Kurchatov nhớ lại ông là một nhà lãnh đạo năng nổ, vui tính và không ai khác có thể làm một công việc tốt hơn ông. Kurchatov dành thời gian cho tất cả mọi thứ: ông có thể đến thăm mọi cơ sở của Viện, kiểm tra tiến độ công việc, nói chuyện với các đồng nghiệp, cổ vũ họ và định hình nhiệm vụ.

Nhân viên của Kurchatov mong chờ những cuộc họp mặt với ông để luôn được truyền cảm hứng và lưu lại trong ký ức trong một thời gian dài.

Mitch Anatoly Alexandrov, nhà vật lý và giám đốc thứ hai của Viện Kurchatov, đã viết về Igor Kurchatov: "Trong số hàng ngàn người giải quyết vấn đề hạt nhân vào thời điểm đó, không có ai nổi tiếng và được kính trọng hơn con người khổng lồ này - với dáng đi chậm chạp, đôi mắt rạng rỡ và cái tên ngắn ấm áp "Ông Râu'".

Chào đời tại miền quê vùng Simsky Zavod phía Nam Ural và năm 20 tuổi, Kurchatov tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Tavrichesky ngành Toán Lý.

15 năm tiếp theo (1925-1940), Kurchatov hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau - từ nghiên cứu thủy triều, dao động của mặt biển, sóng biển ở biển Azov, Hắc Hải đến vật lý các chất điện môi, chất bán dẫn, vật lý và kỹ thuật các chất cảm biến đến vật lý hạt nhân, kỹ thuật gia tốc và máy gia tốc ở Viện Vật lý kỹ thuật Leningrad (LPTI).

Kurchatov chính thức tiếp cận lĩnh vực năng lượng hạt nhân và triển khai nghiên cứu một cách có hệ thống từ tháng 12-1932, khi được cử làm Phó chủ nhiệm nhóm nghiên cứu chuyên biệt về hạt nhân nguyên tử ở LPTI - Viện do thầy của ông, Viện sĩ A.F. Ioffe sáng lập từ năm 1918. Ngày 1-5-1933, Kurchatov là trưởng bộ phận Vật lý hạt nhân LPTI.

Vào lúc 12 giờ 15 phút trưa ngày 7-2-1960, trong khi đang thảo luận công việc với Viện sĩ Kharitov, Kurchatov đột ngột qua đời ở tuổi 57 do bị nghẽn động mạch tim. Đây là tổn thất to lớn cho nền khoa học của Liên Xô và nhân loại. Tượng của ông đã được dựng ở nhiều nơi như: Ozyorsk, Chelyabinsk, Semipalatinsky... để tưởng nhớ đến người đã có công góp phần chế tạo ra quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô.

Quá khứ và hiện tại

Năm 1968, Viện Kurchatov đã đạt được thành quả kỷ lục về việc giam plasma bằng cách sử dụng một Tokamak - một buồng hình xuyến với cuộn dây từ tính; hay nói cách khác là một loại máy sản sinh ra từ trường hình xuyến để chứa plasma.

Mặc dù có một số thiết bị chứa plasma khác, tokamak vẫn được coi là ứng cử viên số một trong việc tạo năng lượng hợp hạch. Tokamak là một phát minh quan trọng của 2 nhà khoa học Igor Yevgenyevich Tamm và Andrei Sakharov trong những năm 1950.

Mô hình của quả bom hạt nhân đầu tiên của Liên Xô RDS-01 được trưng bày tại Trung tâm hạt nhân Liên bang Nga - Viện nghiên cứu khoa học vật lý toàn Nga (RFNC-VNIIEF) ở Sarov của Nga.
Mô hình của quả bom hạt nhân đầu tiên của Liên Xô RDS-01 được trưng bày tại Trung tâm hạt nhân Liên bang Nga - Viện nghiên cứu khoa học vật lý toàn Nga (RFNC-VNIIEF) ở Sarov của Nga.

Được tạo ra tại Viện Kurchatov, tokamak nhanh chóng trở thành công cụ nghiên cứu chính cho phản ứng tổng hợp nhiệt hạch có kiểm soát trên toàn thế giới.

Trong thập niên tiếp theo, Viện Kurchatov đã nhanh chóng phát triển các công nghệ vi điện tử bao gồm cấy ion, in thạch bản, hóa học plasma, màng mỏng. Tất cả những điều này đã trở thành nền tảng cho sự phát triển của công nghệ nano tại Viện, tạo ra các hệ thống lai và siêu máy tính.

Năm 1975, một chiếc Tokamak T-10 lớn mới - ngày nay, nó vẫn đang được sử dụng để kiểm tra thiết bị cho ITER - lò phản ứng nhiệt hạch thử nghiệm đầu tiên trên thế giới. Viện cũng có tokamak T-15 lớn với hệ thống từ tính siêu dẫn. Viện Kurchatov cũng trực tiếp gắn liền với sự xuất hiện của Internet ở Liên Xô, và sau đó là ở Nga.

Vào ngày 1-8-1990, mạng máy tính đầu tiên Relcom được thành lập bên trong Viện Kurchatov. Điều đầu tiên cần làm là kết nối máy tính trong các tổ chức khoa học ở Moscow, Leningrad, Novosibirsk và Kiev. Và vào ngày 28-8 cùng năm, phiên giao tiếp máy tính đầu tiên đã diễn ra trên lãnh thổ Liên Xô với Phần Lan, được thiết lập tại Đại học Helsinki.

Đội ngũ khoa học hạt nhân của Kurchatov đã cho nổ thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô vào 6 giờ sáng ngày 29-8-1949 tại Semipalatinsky (Kazakhstan), và chỉ 4 năm sau - vào ngày 12-8-1953 - tiếp tục cho nổ quả bom nhiệt hạch (còn gọi là bom khinh khí hoặc bom hydro) đầu tiên trên thế giới.

Theo sáng kiến và dưới sự lãnh đạo khoa học của Kurchatov, Liên Xô đã xây dựng và đưa vào vận hành khai thác nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới vào ngày 26-6-1954 ở Obninsk.

Ngày nay người ta coi đó là thời điểm ra đời của điện nguyên tử, khẳng định khả năng sử dụng năng lượng nguyên tử phục vụ mục đích hòa bình, góp phần đáp ứng nhu cầu năng lượng cho nhân loại.

Ngày nay, Viện Kurchatov bao gồm một loạt các trung tâm nghiên cứu riêng biệt liên quan đến một loạt vấn đề khoa học - tất cả các bộ môn đều kết hợp với nhau dưới bóng Trung tâm nghiên cứu quốc gia - "Viện Kurchatov".

Các hoạt động cốt lõi của trung tâm vẫn là sự phát triển an toàn của năng lượng hạt nhân, quá trình tổng hợp hạt nhân và nhiệt hạch có kiểm soát, vật lý hạt nhân năng lượng thấp và trung bình, vật lý trạng thái rắn và siêu dẫn.

Ngoài ra, nghiên cứu nghiêm túc cũng được tiến hành trong lĩnh vực nano và công nghệ sinh học, việc tạo ra vật liệu mới và thuốc chữa bệnh. Trong một số dự án thú vị nhất mà Viện Kurchatov đang thực hiện là tìm giải pháp bảo vệ con người khỏi bức xạ trong không gian - cho phép du hành không gian dài hạn và có thể thoát khỏi những ký ức tiêu cực.

Tiết lộ bí mật vụ nổ hạt nhân tại Viện Kurchatov

Trong những thập niên qua, có tin đồn đã lan truyền vào đầu những năm 1970, một vụ tai nạn tại Viện Năng lượng nguyên tử Kurchatov, ở một vùng ngoại ô của Moscow, đã phóng ra một đám mây khí trôi qua thành phố và bức xạ có khả năng gây hại tiềm ẩn cho người dân.

Cuối tháng 9-1999, Dmitry Parfanovich - một nhà nghiên cứu hàng đầu tại Viện Kurchatov - báo cáo tại Hội nghị quốc tế về an toàn hạt nhân ở thành phố Versailles nước Pháp về vụ nổ nghiêm trọng nhất xảy ra vào ngày 26-5-1971. Đây là lần đầu tiên một nhà nghiên cứu cấp cao của Kurchatov thảo luận về sự kiện.

Theo Kurchatov, vụ nổ tại Viện Kurchatov vào đầu những năm 1970 đã giết chết 2 người nhưng khẳng định không có chất đồng vị phóng xạ nào phát tán ra bầu không khí trên toàn thành phố.

Nhà sử học David Holloway, Đại học Stanford (Mỹ), tác giả của cuốn sách "Stalin và Quả bom", nói: "Vào những năm 1970, tính bí mật là yêu cầu rất cao ở Liên Xô". Vào thời điểm đó, Parfanovich đang làm việc trong khu vực nghiên cứu gần một trong những khu vực quan trọng nhất của Viện. Parfanovich nói với tạp chí khoa học Mỹ Science: "Tất cả xảy ra do cấu trúc bộ phận trong lò phản ứng rất mong manh".

Vào khoảng 4 giờ chiều hôm đó, các thí nghiệm tại lò phản ứng này đã được hoàn thành và các nhà nghiên cứu đang trong quá trình tắt nó. Điều này liên quan đến việc rút cạn nước, được sử dụng như một chất điều tiết. Thủ tục tiêu chuẩn yêu cầu nước phải được rút từ từ và cẩn thận, nhưng vào ngày hôm đó - Parfanovich nhớ lại - các công nhân đã vội vàng và họ sử dụng một cống khẩn cấp lớn ở đáy bể.

Việc loại bỏ nhanh chóng bộ điều tiết nước làm cho cấu trúc nóng lên, tạo ra áp lực dư thừa làm oằn chân đế lò phản ứng. Kết quả là, các thanh uranium bung khỏi ổ cắm của chúng và rơi ra khỏi đáy của tổ hợp xuống sàn nhà bên dưới. Sau đó là một tia phóng xạ, các thanh uranium tan chảy và thay đổi cấu hình của chúng làm cho phản ứng lại dừng lại lần nữa.

Parfanovich cho biết mặc dù vụ nổ chỉ kéo dài một phần nghìn giây nhưng một kỹ thuật viên đứng gần đó đã bị nhiễm một lượng bức xạ trực tiếp lên tới 6.000 roentgen. Người này qua đời ngay ngày hôm sau sau một cơn đau tim.

Một nhà nghiên cứu khác nhiễm hơn 2.000 roentgen và chết vào 2 tuần sau đó. Hai nhà nghiên cứu khác nhiễm ở mức 800 đến 900 roentgen và may mắn được cứu sống nhờ điều trị y tế tích cực, nhưng hậu quả không tránh khỏi là tình trạng sức khỏe của họ bị ảnh hưởng rất nặng nề. Các nhân viên khác được bảo vệ bởi một lá chắn bê tông nên chỉ bị nhiễm với liều lượng không đáng kể.

Tất cả nhân viên làm việc trong tòa nhà Viện Kurchatov được sơ tán ngay lập tức và nỗ lực kiểm tra phóng xạ thường xuyên theo thủ tục cho thấy một số người có đồng vị phóng xạ I-131 bám trên quần áo của họ.

Vladimir Asmolov, người đứng đầu Viện kiểm soát sử dụng năng lượng hạt nhân an toàn (một phần của trung tâm Kurchatov), nhớ lại có một số nhà nghiên cứu trẻ đang mặc quần áo bị ô nhiễm đã trốn tránh an ninh với hy vọng đơn giản là chờ mức độ phóng xạ giảm xuống. Họ đã đi uống rượu trong khu vườn táo trong khuôn viên của Viện.

Khu vườn được trồng bởi người sáng lập của nó, Igor Kurchatov. (Kurchatov thích chứng minh sự an toàn bằng cách ăn táo ngay từ trên cây). Bất chấp tin đồn về những đám mây phóng xạ trôi nổi khắp trung tâm Moscow, Parfanovich khẳng định không có khí thải nguy hiểm phát tán ra bên ngoài khu vực nghiên cứu.

Toàn bộ sự việc được giữ bí mật, ngay cả từ các nhà nghiên cứu làm việc trong các chi nhánh khác của Viện Kurchatov. Hầu hết mọi người đều biết chuyện một vụ nổ đã xảy ra nhưng không biết mức độ nghiêm trọng của nó.

Khoảng 3 tháng trước vụ nổ hôm 26-5-1971, một vụ nổ khác yếu hơn cũng đã xảy ra trong Viện Kurchatov. Trong vụ này, các nhà nghiên cứu không nhận biết có bất cứ điều gì sai sót với lò phản ứng cho đến khi họ nhận thấy một ánh sáng màu xanh lam chiếu sáng trần nhà. Parfanovich báo cáo có 2 nhà nghiên cứu nhiễm khoảng 1.000 roentgen, và một trong số họ sau đó bị cắt cụt chân.

Tại hội nghị khác ở thành phố Paris nước Pháp, Parfanovich tiết lộ có tổng cộng 5 vụ nổ như vậy xảy ra tại các trung tâm nghiên cứu trong thời kỳ Xôviết. Vladimir Asmolov nghĩ rằng các viện nghiên cứu nguyên tử và ngành công nghiệp điện hạt nhân phát triển từ thời Xôviết có hồ sơ an toàn tốt, nhưng các tiêu chuẩn đó hiện đang tuột dốc.

Tuy nhiên, do lo ngại về an toàn hạt nhân mà Evgeny Velikhov - giám đốc Viện Kurchatov hiện nay - ủng hộ việc di dời cơ sở nghiên cứu ra ngoài Moscow.

Trang Thuần (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.