trò chuyện Chủ nhật

Hạn chế xe máy, cần lộ trình "trưởng thành" của giao thông công cộng

TS Khương Kim Tạo, nguyên Phó Chánh văn phòng Ủy ban ATGT Quốc gia cho rằng, để giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông thì phải giảm phương tiện cá nhân, phát triển giao thông công cộng, kết hợp với quy hoạch giao thông. Còn nếu nói chỉ hạn chế, tiến tới cấm xe máy để giải quyết ùn tắc giao thông là sai, mất tính khoa học…

Chính phủ mới ban hành Nghị quyết 48/NQ-CP về tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (ATGT) và chống ùn tắc giao thông giai đoạn 2022 – 2025. Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết là Chính phủ giao 5 thành phố trực thuộc Trung ương: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh nghiên cứu xây dựng Đề án phân vùng hạn chế hoạt động xe máy phù hợp với cơ sở hạ tầng và năng lực phục vụ của hệ thống vận tải hành khách công cộng, tiến tới lộ trình hạn chế hoặc dừng hoạt động của xe máy trên một số địa bàn các quận sau năm 2030. Xung quanh vấn đề này, phóng viên có trao đổi với TS Khương Kim Tạo, nguyên Phó Chánh văn phòng Ủy ban ATGT Quốc gia.

Hạn chế xe máy, cần lộ trình
TS Khương Kim Tạo.

PV: Thưa ông, lộ trình hạn chế phương tiện cá nhân lưu thông trong khu vực trung tâm ở 5 thành phố lớn đã được Chính phủ đặt ra từ năm 2013. Mới đây, thêm một lần nữa được nhắc lại trong Nghị quyết 48. Rõ ràng đây là một chủ trương rất đáng quan tâm. Dưới kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu và làm việc về vấn đề ATGT, ông nhìn nhận về việc này như thế nào nếu áp dụng ở cả 5 thành phố cùng lúc?

TS Khương Kim Tạo: Tôi cho rằng, để giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông thì phải giảm phương tiện cá nhân, phát triển giao thông công cộng, kết hợp với quy hoạch giao thông. Còn nếu nói chỉ hạn chế, tiến tới cấm xe máy để giải quyết ùn tắc giao thông là sai, mất tính khoa học. Bởi nếu cấm xe máy, để người dân chỉ đi ôtô cá nhân thì ùn tắc còn tăng hơn hiện tại nhiều lần. Thực tế, tôi nghĩ rằng, khi đã có nghị quyết, có ý kiến chỉ đạo của Chính phủ là đã có những căn cứ pháp lý. Nếu hợp với khoa học, phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới thì chúng ta phải nghiên cứu để tìm ra giải pháp giải quyết ùn tắc giao thông, phát triển các thành phố lớn thành nơi văn minh hiện đại.

PV: Điều khiến người dân lo lắng là với hệ thống giao thông công cộng chưa nhất quán, nếu hạn chế xe máy thì người dân sẽ đi bằng phương tiện gì? Đâu là giải pháp mở, thưa ông?

TS Khương Kim Tạo: Đối với bản thân tôi, câu hỏi của nhân dân là rất đúng, “Nếu hạn chế phương tiện cá nhân thì đi bằng gì?” - có nghĩa vấn đề mấu chốt là các cơ quan quản lý nhà nước phải tạo ra các phương thức vận tải để thay thế cho phương tiện cá nhân trước. Phương tiện vận tải công cộng thay thế phải có tính ưu việt cao hơn so các phương tiện cá nhân đang lưu thông, có như vậy nhân dân sẽ tự động cất xe máy ở nhà và sử dụng các phương tiện vận tải công cộng. Đây là giải pháp êm thuận mà không có thiệt hại về kinh tế cũng như tồn tại những vấn đề bức xúc trong nhân dân.

Hạn chế xe máy, cần lộ trình
Các nhà quản lý cần đưa ra lộ trình về sự tương thích, tương quan bằng sự phát triển của giao thông công cộng.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tôi cho rằng cần tính toán đến công tác quy hoạch. Hà Nội cần quy hoạch lại, xem xét những công trình cần giữ lại, cần mở ra những con đường nào, giãn dân ra khỏi nội đô. Còn nếu thành phố vẫn tạo ra sự sầm uất trong lõi, tạo ra nhiều nhà cao tầng thì không thể di dân.Vấn đề thứ hai đặt ra là những lộ trình. Bởi nhiều năm nay, các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh chỉ đưa ra lộ trình về thời gian, ngày tháng. Tuy nhiên, cơ sở để cấm, để hạn chế thì lại không được tính toán và nghiên cứu thỏa đáng. Do đó, các nhà quản lý cần đưa ra lộ trình về sự tương thích, tương quan bằng sự phát triển của giao thông công cộng. Khi mà loại hình giao thông này phát triển đến đâu thì siết phương tiện cá nhân đến đó. Cần nghiên cứu phát triển phương tiện công cộng cỡ nhỏ, vừa phải, có tính chất cơ động để phục vụ nhu cầu đi lại. Còn nếu chỉ có taxi hay xe buýt thì không thể đảm đương, giải quyết nhu cầu đi lại.

PV: Trước đây chúng ta đã tiến hành nhiều biện pháp giảm tải các phương tiện xe máy, như Hà Nội đã ngừng đăng ký xe máy ở các quận trung tâm, sau đó lại dừng lại. TP Hồ Chí Minh thu phí phương tiện vào nội đô. Vậy theo ông, liệu giải pháp cấm xe máy có trở thành giải pháp tốt hơn để giải quyết bài toàn ùn tắc?

TS Khương Kim Tạo: Hạn chế phương tiện cá nhân thì tức là cả xe máy và ôtô. Ôtô cũng là một trong những tác nhân gây ra ùn tắc giao thông. Giả sử ta cấm 10 chiếc xe máy nhưng lại biến nó thành 10 chiếc ôtô thì còn phức tạp hơn. Nếu chỉ hạn chế riêng xe máy sẽ không hợp lý, thiếu tính nhân văn. Bởi đi xe máy vẫn phù hợp với mức thu nhập của nhiều người và thuận lợi khi di chuyển tại các tuyến đường nhỏ hẹp, nhiều ngõ ngách như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Do đó, nếu hạn chế phải là hạn chế phương tiện cá nhân chứ không chỉ nhằm vào xe máy. Quan điểm của tôi, không đi theo vấn đề cấm phương tiện nào, mà làm chung cho cả phương tiện cá nhân, quy định lại những làn đường dành cho phương tiện công cộng, mở thêm các tuyến đường mới.

PV: Trong 5 thành phố mà Nghị quyết Chính phủ đã nêu, theo ông, địa phương nào thí điểm sẽ khả thi hơn cả? Và vì sao?

TS Khương Kim Tạo: Chúng ta có thể nhìn thấy ngay được rằng, khi triển khai thí điểm hạn chế phương tiện cá nhân, thành phố nhỏ sẽ thực hiện thuận lợi hơn thành phố lớn. Thế nhưng, mục tiêu của chúng ta là tập trung vào vấn đề hạn chế phương tiện cá nhân ôtô, xe máy ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Đây mới là vấn đề cốt lõi chúng ta cần phải bàn. Còn các thành phố khác đương nhiên vẫn phải làm nhưng có thể nhìn thấy ngay là điều kiện triển khai sẽ thuận lợi hơn nhiều. Với Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, ùn tắc giao thông rõ là bức bách nhưng vấn đề triển khai khó. Tôi nghĩ rằng, cơ quan chức năng cần phải ngồi lại, nghiên cứu lại, bổ sung thêm các giải pháp, trong đó tập trung ưu tiên đường sá cho phát triển vận tải công cộng, ưu tiên đường hiện có cho các loại phương tiện công cộng lưu thông.

Phương án và Chính phủ chỉ đạo, các địa phương phải nghiên cứu thôi, rồi thí điểm trong một phạm vi hẹp. Chúng ta quan niệm phát triển một phường hay một quận như một toà nhà chung cư to. Chung cư bây giờ họ vẫn đi xe máy rồi để phía dưới hầm, sau đó mới di chuyển lên nhà bằng thang máy, chứ không cần dắt xe máy lên thẳng nhà. Tương tự, các gia đình khu vực hay ùn tắc, đi về cách nhà chừng 500m-1km, thì nên gửi xe ở bãi chung ngoài vùng hạn chế rồi di chuyển về nhà bằng phương tiện công cộng như xe buýt, xe điện.

PV: Trên thế giới, đã có những thành phố nào cấm xe máy thành công, thưa ông? Với các thành phố lớn ở Việt Nam, liệu chúng ta có học hỏi được gì từ kinh nghiệm của các nước đi trước?

TS Khương Kim Tạo: Có rất nhiều nước đã triển khai biện pháp hạn chế xe máy như Trung Quốc hay như Thủ đô Jakarta của Indonesia. Đây đều là các nước có mật độ xe máy dày đặc và tỷ lệ tử vong cao do tai nạn. Cụ thể, tại tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc), chính quyền thực hiện việc cấm xe theo lộ trình thời gian và khu vực. Giai đoạn đầu, cấm tất cả xe máy không đăng ký tại Quảng Châu lưu hành trong nội đô từ 7h sáng đến 19h tối. Giai đoạn 2, các phương tiện này bị cấm lưu hành hoàn toàn. Sang giai đoạn 3, chính quyền bắt đầu bằng việc tuyên truyền cấm xe máy vào năm 2001. Nhiều lộ trình được thực hiện và từ 1/1/2007, cấm hoàn toàn xe máy trong khu vực nội đô. Để đáp ứng nhu cầu đi lại, các loại mini buýt phù hợp với các tuyến phố nhỏ được đưa vào sử dụng.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các đặc điểm quản lý, chính sách quản lý phương tiện giao thông tại các thành phố trên thế giới, có thể rút ra khá nhiều kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam. Thứ nhất, về quản lý số lượng phương tiện, có thể quy định hạn mức đăng ký mới, đấu giá biển số, thực hiện thu phí ùn tắc giao thông, phí ra vào khu vực trung tâm, phí đỗ xe lũy tiến; có lộ trình cấm xe máy hoạt động theo giờ, theo ngày trên các tuyến, khu vực... Đi kèm với đó là cơ chế chính sách thu hồi phương tiện cũ, thay thế bằng phương tiện mới nhằm giảm ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, có thể học hỏi cách thức phát triển hệ thống xe đạp công cộng và tổ chức giao thông (làn dành riêng, tuyến phố xe đạp); sử dụng xe buýt sức chứa nhỏ, có thể di chuyển ở những tuyến đường hẹp…

PV: Xin cám ơn ông!

Theo thống kê, tính đến hết năm 2021, trên địa bàn Hà Nội có hơn 5,6 triệu xe máy, gần 2 triệu phương tiện vãng lai (cả ôtô và xe máy). Tại Hải Phòng hiện có khoảng 1 triệu xe máy. Ở TP Hồ Chí Minh, số xe máy khoảng 7,6 triệu, bình quân mỗi ngày có thêm khoảng 319 xe máy mới được đăng ký. Tại Đà Nẵng, tính đến tháng 3/2022, trên địa bàn thành phố có gần 1 triệu xe máy (kể cả xe máy điện), trong khi con số này tại Cần Thơ là 800.000 xe.

Đặng Nhật(thực hiện)

Các tin khác

Đà Nẵng: Không để nhà, đất công bỏ trống, lãng phí

Đà Nẵng: Không để nhà, đất công bỏ trống, lãng phí

433 cơ sở nhà, đất công tại Đà Nẵng vừa được đưa vào khai thác thông qua hình thức cho thuê ngắn hạn. Cùng với chính sách miễn, giảm tiền thuê nhà cho một số đối tượng ưu tiên, động thái này hướng đến sử dụng hiệu quả tài sản Nhà nước, bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Áp lực tăng trưởng 2 con số và "phép thử" bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Áp lực tăng trưởng 2 con số và "phép thử" bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Số liệu thống kê 9 tháng đầu năm 2026, toàn quốc ghi nhận chỉ có 6/34 tỉnh, thành phố đạt chỉ tiêu tăng trưởng GRDP hai con số theo kế hoạch mà Đảng, Nhà nước đề ra. Một thực tế không thể phủ nhận áp lực chỉ tiêu tăng trưởng hai con số đang “đè nặng” lên bộ máy chỉ đạo, điều hành ở hầu hết các địa phương.

Không để chính sách an sinh trở thành cơ hội đầu cơ

Không để chính sách an sinh trở thành cơ hội đầu cơ

Kết quả phát triển nhà ở xã hội đang có những chuyển biến tích cực, nhưng tình trạng lợi dụng chính sách để trục lợi cho thấy những bất cập trong tổ chức thực hiện. Trong khi đó, phát triển nhà ở cho thuê mở ra hướng tiếp cận mới, giúp người thu nhập thấp, công nhân và lao động nhập cư có thêm cơ hội ổn định chỗ ở. Xung quanh vấn đề này, trong chuyên mục Trò chuyện cuối tuần, PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam.

 Bài học về quản trị nguồn lực và bảo đảm an ninh phát triển

Bài học về quản trị nguồn lực và bảo đảm an ninh phát triển

Từ góc nhìn, cách tiếp cận bảo đảm an ninh kinh tế (ANKT) và sự phát triển bền vững cho Quảng Ninh vươn tầm, chúng tôi xin tổng hợp, đánh giá toàn diện, sâu sắc giải mã tăng trưởng từ bài học quản trị nguồn lực và an ninh phát triển - động lực thúc đẩy đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Đảng, Nhà nước đề ra.

Sức mạnh tri thức và khát vọng tự cường

Sức mạnh tri thức và khát vọng tự cường

Chưa bao giờ người trẻ có điều kiện tiếp cận tri thức và công nghệ thuận lợi như hiện nay. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, họ có thể học ngoại ngữ, lập trình hay sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để giải quyết công việc một cách hiệu quả nhất. Nhưng tiếp cận tri thức có đồng nghĩa với khả năng sáng tạo? Và làm thế nào để những lợi thế của thời đại số trở thành sức mạnh phát triển đất nước? Những câu hỏi ấy càng đáng suy ngẫm trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 – 15/10/2026).

Giá trị và thước đo hiệu quả của Nghị quyết

Giá trị và thước đo hiệu quả của Nghị quyết

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (5-8/10/2026) đã xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; công tác cán bộ; kiểm tra, giám sát; đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh; trọng dụng nhân tài và phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng điều đáng suy ngẫm nhất của Hội nghị có lẽ không nằm ở số lượng văn kiện, mà ở một câu hỏi được đặt ra ngay trong phiên khai mạc.

Đánh thức nguồn lực đảng viên làm kinh tế tư nhân

Đánh thức nguồn lực đảng viên làm kinh tế tư nhân

Hai mươi năm sau Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 về đảng viên làm kinh tế tư nhân, câu hỏi đặt ra đã khác. Không còn là đảng viên có được làm kinh tế tư nhân hay không mà là làm thế nào để trí tuệ, vốn liếng, kinh nghiệm quản trị và tinh thần tiên phong của đội ngũ ấy trở thành một nguồn lực thực sự cho phát triển.

Siết quản lý, giữ an toàn bầu trời Đà Nẵng

Siết quản lý, giữ an toàn bầu trời Đà Nẵng

Trước sự phát triển nhanh của thiết bị bay không người lái và những nguy cơ tiềm ẩn đối với an ninh, an toàn hàng không, TP Đà Nẵng đang tăng cường quản lý từ khâu đăng ký, cấp phép, giám sát vùng trời đến phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm.

Bài 1: Những thước phim vài phút và cái giá không chỉ tính bằng tiền

Bài 1: Những thước phim vài phút và cái giá không chỉ tính bằng tiền

Phim ngắn được sản xuất bằng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó có vô số sản phẩm có nội dung gần giống nhau, có nhiều tình tiết vô lý, thậm chí không ít sản phẩm dung tục tràn ngập trên không gian mạng. Đáng lo ngại là những sản phẩm này vẫn thường xuyên len lỏi vào văn phòng làm việc của nhiều cơ quan, đến tận góc bếp của các bà nội trợ và từng căn phòng ngủ của các gia đình...

Hiểu đúng về thông tin giám sát phòng, chống rửa tiền với "khách hàng VIP"

Hiểu đúng về thông tin giám sát phòng, chống rửa tiền với "khách hàng VIP"

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), dư luận xuất hiện một số thông tin chưa đúng về bản chất pháp lý và một số quy định tại Dự thảo Thông tư quy định về trình tự, thủ tục giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, liên quan tới việc giám sát “khách hàng VIP”.

Thu hẹp án tử hình từ góc nhìn hợp tác tư pháp quốc tế

Thu hẹp án tử hình từ góc nhìn hợp tác tư pháp quốc tế

Đề xuất tiếp tục thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự không đồng nghĩa với nới lỏng trách nhiệm đối với những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Dự thảo cho thấy, trong khi bỏ mức hình phạt cao nhất ở một số tội danh, các chế tài nghiêm khắc vẫn được duy trì, thậm chí phạm vi xử lý hình sự ở một số hành vi còn được mở rộng. Đặt trong bối cảnh quốc tế, sự điều chỉnh này còn có ý nghĩa khi khác biệt về án tử hình ngày càng trở thành một vấn đề phải giải quyết trong dẫn độ, tương trợ tư pháp và hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.

Xác lập “lằn ranh đỏ” của AI để bảo vệ con người, phát triển an toàn, bền vững

Xác lập “lằn ranh đỏ” của AI để bảo vệ con người, phát triển an toàn, bền vững

Trí tuệ nhân tạo (AI) càng mạnh, tốc độ ra quyết định càng nhanh nhưng nếu tốc độ của máy móc vượt quá khả năng kiểm tra và chịu trách nhiệm của con người, một sai sót nhỏ có thể trở thành hậu quả lớn, khó lường. Vấn đề cốt lõi là chúng ta phải làm chủ AI, kiểm soát rủi ro và không để máy móc vượt khỏi sự kiểm soát của con người. Trong bối cảnh phát triển và hội nhập sâu rộng với thế giới, Việt Nam cần làm gì để xây dựng thành công “lá chắn AI” quốc gia vừa đảm bảo an toàn nhưng không mất cơ hội?