Tú Xương - những “cái lạ đời”!

Thế giới thơ Tú Xương là thế giới của cái “lạ đời” ở chỗ đã kiến tạo nên một mô hình tiếng cười rất riêng, không giống ai, sắc nhọn, đanh đá, chua chát, đau đớn. Đó là một mô hình của “thế giới lộn ngược”, tất cả cứ lộn “tùng phèo”, tréo ngoe, oái oăm. Tiếng cười luôn là một mã văn hóa của thời đại, của dân tộc nên giải mã tiếng cười sẽ góp phần tìm được bản chất, xu thế thời đại và tâm hồn, tính cách dân tộc. Các nhà trào phúng lớn thực sự là những nhà văn hóa lớn.

Vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” (là người ghi chép) lý luận văn học hiện đại cho rằng nhà văn phải là người “kiến tạo hiện thực” tức phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Thoát thai từ đời sống nên tác phẩm là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống, do vậy tài năng nhà văn mang tính quyết định. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy.

“Tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Có người kêu to phải “trao quyền tự do sáng tạo” cho nhà văn (!?). Thực tế có ai cấm ai “tự do sáng tạo” đâu. Chỉ sợ viết không hay thôi. Cứ “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động theo nguyên lý “sống đã rồi hãy viết” (Nam Cao) cộng với cái tài, may ra mới có tác phẩm đích thực. Xin giới thiệu “mô hình” “lạ đời” trong thơ Tú Xương để chứng minh những điều này.

Tú Xương - những “cái lạ đời”! -0
Tú Xương (1870 - 1907).

Tú Xương có câu thơ rất thâm thúy: “Cờ biển vua ban cũng lạ đời!” (Ông Tiến sĩ mới). “Cờ biển” của “vua” luôn mang tính chuẩn mực quan phương thế mà còn “lạ đời” huống hồ những cái bình thường khác!? Cái sự “ban” “cờ biển” này “lạ đời” thì đương nhiên “người ban” cũng “lạ đời” nốt.

Thế giới thơ Tú Xương là thế giới của cái “lạ đời” ở chỗ đã kiến tạo nên một mô hình tiếng cười rất riêng, không giống ai, sắc nhọn, đanh đá, chua chát, đau đớn. Đó là một mô hình của “thế giới lộn ngược”, tất cả cứ lộn “tùng phèo”, tréo ngoe, oái oăm. Tiếng cười luôn là một mã văn hóa của thời đại, của dân tộc nên giải mã tiếng cười sẽ góp phần tìm được bản chất, xu thế thời đại và tâm hồn, tính cách dân tộc. Các nhà trào phúng lớn thực sự là những nhà văn hóa lớn.

Thời Tú Xương sống là cái thời có nhiều bi hài kịch nhất: sự hỗn loạn, sự lai căng của văn hóa ngoại lai, sự xuống cấp trầm trọng của đạo lý, đạo đức, sự thối nát của chính quyền. Đó là cái thời có nhiều chân dung, nhiều hình ảnh, nhiều sự kiện đáng lên án, đáng phê phán nhất. Trong thơ Tú Xương có gần như đầy đủ chân dung các loại người từ vua quan, Tây, Tàu, thầy đồ, gái điếm, cô đầu, kẻ buôn, sư sãi… và cũng có rất nhiều nghề, nhiều nghiệp.

Tú Xương lớn bởi ông không chỉ cười một loại người nào, một hạng người nào hay một tính cách đáng cười nào mà ông cười cả một thời đại. Ý nghĩa phổ quát của tiếng cười Tú Xương vượt qua ý nghĩa của văn chương thông thường mà vươn tới tầm lịch sử để đòi thay đổi cả một trạng thái xã hội. Đọc thơ Tú Xương người ta thấy tất yếu cần một sự thay đổi lớn. Nhiều người yêu, mê, thuộc rồi truyền khẩu thơ Tú Xương có lẽ phần lớn cũng vì ở điểm này.

Sống trong bóng đêm xã hội “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn” nên Tú Xương muốn phơi bày ra ánh sáng tất cả những gì trái tai gai mắt cần phải thay đổi. Điều này quy định thơ ông dễ hiểu, giản dị, ít điển tích, điển cổ. Nên nói thơ ông sâu sắc (như có nhận định) là có phần khiên cưỡng nhưng nói thơ ông quyết liệt thậm chí ác liệt là có cơ sở. Ông là người duy nhất của làng trào phúng Việt trong thời đại mình xứng đáng với tên gọi người kể chuyện cười bằng thơ. Mỗi bài thơ của ông như một mảnh ghép để ghép lại thành bức tranh trào phúng về lịch sử.

Tú Xương trước hết là nhà phóng sự điều tra về những gì tiêu cực, lố lăng, xấu xí của xã hội… Vì sự đi lại trong thực tế cuộc sống thời ấy không thuận tiện, với ông cũng không thật sự cần thiết nên “phương tiện” điều tra chủ yếu là bộ phận “thính giác” nhạy bén và nhạy cảm. Cho nên ta hiểu vì sao động từ “nghe” xuất hiện rất nhiều lần trong thơ ông: “Nghe văn mà gớm cho ông mãi” (Ông Tiến sĩ mới); “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai” (Sông lấp); “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau…/ Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang” (Năm mới chúc nhau); “Nằm nghe tiếng trống, trống canh ba” (Chợt giấc); “Nghe nói miền Nam trời đại hạn” (Lụt năm Bính Ngọ);… Nhân vật cũng nghe: “Nghe tin cụ cố cười ha hả…/ Nghe tin bà cố cười khì khì” (Ông Cử thứ năm);…

Nhà thơ “nghe” thấy tiếng nói của các nhân vật nói với nhau nên động từ “bảo”, “nhắn” có rất nhiều: “Ta thấy người ta vẫn bảo rằng/ Bảo rằng thằng Cuội ở cung trăng” (Gái góa nhà giàu); “Tôi thấy người ta có bảo rằng” (Chị Hằng thằng Cuội); “Khéo bảo nhau rằng: mới với me” (Năm mới); “Ai về nhắn bảo đàn em nhé” (Lấy lẽ); “Ai về nhắn bảo việc này cho/ Nhắn bảo ai rằng việc nhỡ to” (Mẹ vợ với chàng rể); “Ông lão nhà quê tang tảng dậy/ Bảo con đan đó chớ đan gầu” (Mưa tháng bảy);…

Tú Xương - những “cái lạ đời”! -0
Hình ảnh bát nháo, hỗn loạn thời Tú Xương sống!

Ở thời buổi toàn cầu hóa này nhưng trong giáo trình giảng dạy của nhiều trường báo chí hiện đại ở một số nước tiên tiến vẫn coi “hỏi” là phương pháp điều tra cơ bản, vì thông dụng, tiện lợi, nhanh gọn và hiệu quả. Hẳn nhiên trong thơ Tú Xương có rất nhiều câu hỏi, có cả những câu hỏi tu từ nhưng phần nhiều là những câu hỏi mang tính “điều tra”, hỏi để làm rõ thông tin góp phần vạch ra sự thật của sự kiện: “Học trò chúng nó tội gì thế?/ Để đến cho ông vớ được đầu” (Chế ông Đốc học); “Chẳng hay gian dối vì đâu vậy?” (Chế ông Huyện); “Hàn lâm tu soạn kém gì ai?” (Đùa ông Hàn); “Hỏi lão đâu ta? Lão ở Liêm/…Xuân thu ướm hỏi đà bao tá?” (Già chơi trống bỏi); “Thọ kia mày có biết hay chăng?” (Để vợ chơi nhăng); “Cô Ký kia sao mà chết ngay?” (Mồng Hai Tết viếng cô Ký); “Ông Cử thứ năm con cái ai?/…Thứ năm ông Cử ai làm nổi?” (Ông Cử thứ năm); “Này này hương thí đỗ năm nào?” (Thi phúc);

Lại có khi hỏi cả mình: “Trải mấy mươi năm vẫn thế ru?/ Rằng khôn? Rằng dại? Lại rằng ngu?” (Hỏi mình); Thậm chí hỏi trời: “Ta lên ta hỏi ông trời/ Trời sinh ta ở trên đời biết chi?” (Hỏi ông trời); “Bắc thang lên hỏi ông cầm sổ?” (Khóc anh rể và chị). Hỏi trăng: “Ta lên ta hỏi ông trăng/ Họa là ông có biết chăng sự đời?” (Hỏi ông trăng); “Nước đã mấy con, con nước lớn?/ Trăng bao nhiêu tuổi, tuổi trăng già?” (Hỏi trăng, hỏi nước). Hỏi thời gian, thời thế: “Xuân ơi, ta hỏi xuân xem nhé/ Quả đất còn bao độ chuyển vần?” (Hỏi xuân). Hỏi “trong ấy” (tức Kinh đô Huế): “Dám hỏi những ai nơi cố quận/ Rằng xuân, xuân mãi thế ru mà?” (Xuân). Hỏi “đất”: “Có đất nào như đất ấy không?” (Đất Vị Hoàng). Có cả những lời “hỏi thăm”: “Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà” (Ông Ấm Điền); “Hỏi thăm quê quán nơi mô?/ Không học mà sao cũng gọi đồ?” (Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt);…

Là nhà “điều tra” nên ông nhận thấy sớm hơn tất cả về một trạng thái “ngược đời”, “lạ đời” của xã hội. Thương đời “Những là thương cả cho đời bạc” (Hỏi mình) nhưng càng buồn thêm vì bất lực, vì không thể làm sao thay đổi được trạng thái phong hóa đồi bại đang ngày một thê thảm. Vì thế thơ ông ngập tràn nỗi buồn, ngoài nỗi “buồn thi hỏng” (tên một bài thơ): “Bụng buồn còn muốn nói năng chi/ Đệ nhất buồn là cái hỏng thi”, còn là buồn nhân thế và thời thế: “Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn” (“Hát tuồng”); “Sao đang vui vẻ ra buồn bã” (Nhớ bạn phương trời).

Và rất nhiều tâm trạng “ngán”, “chán”: “Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế” (Phường nhơ), “Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng” (Mùa nực mặc áo bông); “ngao ngán, ngẩn ngơ”: “Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao” (Cái nợ); “Vì ai lận đận cho mình ngẩn ngơ” (Áo bông che bạn). Cũng rất nhiều trạng thái “tiếc”: “Nào ai có tiếc ai đâu?” (Áo bông che bạn), “Tỉnh ra lại tiếc người trong mộng” (Chiêm bao)… Có một chủ đề “hoài cổ” (cũng là sự luyến tiếc) trong thơ Tú Xương mà bài “Sông lấp” là rất tiêu biểu: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò”…

Bi kịch thời đại và bi kịch cá nhân dồn tụ, nén chặt vào tâm hồn con người thi nhân nên thơ Tú Xương đầy sự bức bối: “Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông” (từ góc nhìn này cho thấy câu thơ mang nghĩa bóng hơn là nghĩa thực). Đầy bóng đêm: “Đêm sao đêm mãi thế ru mà?” (Đêm dài), “Kìa cái đêm nay mới gọi đêm” (Dạ hoài)… Có thể viết một tiểu luận nghiên cứu dài về hình tượng bóng đêm này. Còn đầy sự “bối rối”: “Bối rối tình duyên cơn gió thoảng” (Đêm hè). Cũng đầy sự trăn trở vật vã: “Nào ai là kẻ tìm ta đó/ Đốt đuốc mà soi kẻo lẫn nhà?” (Đêm dài); … Bi kịch vẫn là bi kịch. Bóng đêm vẫn “dài”. Bế tắc. Nên cũng dễ hiểu có lúc đau mắt mà ông lại muốn mù hẳn: “Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ/ Giương mắt làm chi buổi bạc tình!?” (Đau mắt)…

Những sự ngược đời ấy đã nói thay cái khát khao lớn nhất ở Tú Xương là mong muốn đòi một sự thay đổi xã hội để con người được sống “cho ra cái giống người”!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).