Từ Nguyên Tĩnh, ký ức ám ảnh trang viết

Đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh là màu sắc tự thuật, trong thơ là thi pháp tự sự. Hay nói cho đúng hơn, tác giả tự đặt mình ở ngôi thứ nhất - người kể chuyện. Nhân vật "tôi" thường giữ vai trò trung tâm, vừa kể về mình vừa là nhân vật quan sát, liên kết các sự kiện, con người trong một bối cảnh và cốt truyện cụ thể.

1. Từ Nguyên Tĩnh sinh năm Đinh Hợi, 1947. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1994, thuở tôi chưa nghĩ gì đến “chữ nghĩa”. Dần dần tôi nhận ra, ông là văn nhân “lực lưỡng” trên văn đàn, thành danh và nổi danh.

Nói đến Từ Nguyên Tĩnh, trước hết nói đến ông với tư cách nhà văn. Khởi đầu từ tập ký sự "Hàm Rồng ngày ấy" viết chung với Lê Xuân Giang (hai tập, 1984 - 1987), nhà văn Từ Nguyên Tĩnh liên tục cho ra đời các tập truyện ngắn: "Mối tình chàng Lung Mù" (1992), "Gã nhà quê" (1993), "Mùa yêu đương" (1997), "Kiếp cầm ca" (2002), "Chuyện lạ trên núi mắt rồng" (2005), "Người tình của cha" (2006), Truyện ngắn "Từ Nguyên Tĩnh I" (2006), Truyện ngắn "Từ Nguyên Tĩnh II" (2011), "Ngày bình thường của chiến tranh" (2017)...

Từ Nguyên Tĩnh, ký ức ám ảnh trang viết -1
Tác giả Từ Nguyên Tĩnh.

“Gia tài” văn xuôi ngoài “kho” truyện ngắn, phải kể đến 6 tiểu thuyết: "Mảnh vụn chiến tranh" (1994), "Không thành người lớn" (1995), "Cõi người" (2004), "Đời côi cút" (2016), "Truyền thuyết sông Thu Bồn" (2008), "Sống được là may" (2014).

Văn xuôi Từ Nguyên Tĩnh là văn xuôi của thân phận, vì thế có sức sống. Truyện ngắn "Người tình của cha" (năm 1991) của ông được chuyển thể thành phim và phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam năm 1994. Truyện ngắn này cũng đã được tuyển chọn vào chương trình tham khảo lớp 9, bộ môn văn học địa phương tỉnh Thanh Hóa từ năm học 2007-2008.

Truyện ngắn "Hạnh phúc trần gian" cũng được chuyển thể phim và được đài Truyền hình Đà Nẵng công chiếu năm 1995. Trong một lần gặp nhau tại "Ký ức Nhiếp ảnh" của nhà văn, NSNA Phạm Công Thắng, ông tặng tôi "Chuyện tình bỏ quên" (tập truyện ngắn) và "Bản thảo 3" (thuộc seri mang tên "Bản thảo", khởi in từ năm 2007, "Bản thảo II" năm 2009).

Về thơ, ông còn có "Trường ca Hàm Rồng" (2000), "Thơ Từ Nguyên Tĩnh" (2014). Gần đây, ông gửi ra "Từ Nguyên Tĩnh - Trường ca" (quý 3/2025). Giật mình vì ông dù cao niên vẫn miệt mài sáng tạo văn chương. Hỏi thì ông cười: “Nợ cuộc đời, nợ nhân thế chưa trả hết thì viết”.

So với văn nhân cùng thế hệ, Từ Nguyên Tĩnh cầm bút khá muộn. Tuy nhiên, tính đến nay, ông đã có 27 tác phẩm, đủ thể loại. Đó là một “gia tài” đáng nể sau 40 năm cầm bút. Quả thật, sức vóc lao động nghệ thuật như thế phải nói là bền bỉ, cần mẫn, đam mê, nghiêm túc, đạt hiệu suất cao. Mượn chữ của nhà văn Nguyễn Hoài Nam mà nói thì đúng là Từ Nguyên Tĩnh thuộc lớp nhà văn “cường chữ”. Ông đúng là con “trâu mộng” trên cánh đồng Thạch Bàn bước vào “cánh đồng” chữ.

Đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh là màu sắc tự thuật, trong thơ là thi pháp tự sự. Hay nói cho đúng hơn, tác giả tự đặt mình ở ngôi thứ nhất - người kể chuyện. Nhân vật "tôi" thường giữ vai trò trung tâm, vừa kể về mình vừa là nhân vật quan sát, liên kết các sự kiện, con người trong một bối cảnh và cốt truyện cụ thể. Điều này tạo nên mối liên hệ, đồng cảm với độc giả và gia tăng tính chân thực, thuyết phục của tiếng nói "người trong cuộc".

Từ “chứng nhân” của lịch sử bước vào văn bản trở thành “nhân vật” tự thuật, tự sự. Sự kiện, cảm xúc của ông trong tác phẩm không vay mượn.

2. Năm 1965, khi đủ 18 tuổi, Từ Nguyên Tĩnh nhập ngũ và có 10 năm trong quân ngũ. Ông là người lính, tham gia chiến đấu bảo vệ “huyết mạch” giao thông vận tải ở Hàm Rồng. Ông “chung thủy” với trận địa Hàm Rồng.

Nói về Nam Ngạn - Hàm Rồng, thế hệ “lớn lên” nhờ trang sách, hẳn không ai lạ với tên tuổi nữ Anh hùng Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, liệt sĩ Đỗ Hữu Toại. Từng tấc đất ở đây thấm máu quân và dân Thanh Hóa. Đây cũng là câu trả lời thắc mắc ban đầu của tôi, khi thấy ông viết mãi về Hàm Rồng, về Nam Ngạn, về bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến - những lực lượng nòng cốt trên trận địa năm xưa, cho tới tận hôm nay.

Đất nước thống nhất đã 50 năm. Chiến thắng Hàm Rồng cũng qua 60 năm (4/4/1965 - 4/4/2025), nhưng đó là bản hùng ca vang mãi. “Những ai qua đây/ Để về chiến trường xa/ Những đoàn quân theo bàn tay của Bác/ Thấy tượng cũng theo mình ra đi/ Chỉ phương trời có giặc”, (Tượng Nam Ngạn - Hàm Rồng).

Từ Nguyên Tĩnh, ký ức ám ảnh trang viết -0
Bìa cuốn “Trường ca”của tác giả Từ Nguyên Tĩnh.

Từng có nhiều tác phẩm văn xuôi, trường ca về Hàm Rồng, nhưng Từ Nguyên Tĩnh chia sẻ còn viết mãi về “địa chỉ đỏ” này. Đọc tác phẩm của ông, hiện diện lên tất cả bi hùng của dòng sông Mã và Hàm Rồng lịch sử, và cả day dứt khôn nguôi của “người trong cuộc”.

Nếu tôi ngồi xuống lúc này/ Trên trận địa Hàm Rồng/ Tôi không thể đứng lên được nữa/ Đồng đội ôm lấy tôi/ Tôi và đồng đội.../ Thành những linh hồn” (Nếu tôi ngồi xuống). Rất nhiều đồng đội, đồng chí của Từ Nguyên Tĩnh đã nằm lại, linh hồn hóa thân thành sông núi, không riêng một pháo thủ làm thơ, bên chiến hào.

Tác phẩm mới nhất của ông là "Từ Nguyên Tĩnh – Trường ca" gồm 3 trường ca: "Tượng đài dân công", "Cái chết của sư cụ chùa Tịnh Thiên", "Chuyện tình trong hang đá" - có chung đề tài hậu chiến. Cả 3 trường ca này đều viết về cùng “đội quân” nhân dân là dân công hỏa tuyến và thanh niên xung phong. Từ Nguyên Tĩnh là nhà văn đầu tiên viết về đề tài dân công, lực lượng quần chúng tham gia cuộc trường chinh chống Pháp và chống Mỹ

Văn giới “kính nể” Từ Nguyên Tĩnh không chỉ ở chỗ ông viết nhiều, viết khỏe mà còn là cây bút linh hoạt, đa năng, đa diện, đa phong cách, đa giọng điệu. Sáng tác của ông đủ các thể loại, từ tự sự đến trữ tình, từ ký sự, truyện ngắn đến tiểu thuyết, từ thơ đoản thiên đến trường ca... Hay nói cách khác, “văn bản” của ông đa thanh, đa giọng điệu. Điều này thực sự là không dễ.

Từ Nguyên Tĩnh đã “trình diễn” hệ thống chủ đề thật sự đa dạng, theo sát tiểu sử, hành trạng và kinh nghiệm cuộc đời ông. Trong tác phẩm của ông có đầy đủ chiến tranh và hậu chiến; truyền thống và hiện đại; miền núi, đồng bằng và biển đảo; số phận dân tộc và bi kịch cá nhân; có tiếp nhận, phát triển; có tình yêu, hôn nhân và gia đình...

Tác phẩm của ông vừa suy tư, chiêm nghiệm, vừa lãng mạn. Thật khó lý giải, ở tuổi ngót nghét bát thập, bên cạnh văn xuôi đầy thân phận, va đập, Từ Nguyên Tĩnh còn viết thơ tình, không kém ngọt ngào.

3. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh (tên thật là Lê Văn Tinh) sinh tại làng Bàn Thạch, xã Xuân Sinh, huyện Thọ Xuân (cũ), nay là xã Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa. Ông vẫn luôn tếu táo, tự trào mình là anh nhà quê: “Tớ dân quê”.

Bàn Thạch quê hương ông là vùng đất thiêng, “địa linh nhân kiệt”. Theo truyền khẩu, ở làng cổ Bàn Thạch có đến 21 thế đất hình con dơi. Con dơi khi thêm vào bộ tứ linh “long, ly, quy, phượng” thành ngũ phúc. Vì vậy, đất này được lựa chọn làm nơi an táng 3 vị vua thời Lê Trung Hưng là Lê Dụ Tông, Lê Hiển Tông, Lê Mẫn Đế.

Học xong Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (1978-1982), ông về quê công tác, chẳng mê phố thị. Khật khừ vậy nhưng rồi cũng “đưa đẩy” ông đảm nhiệm các phận sự như Phó chủ tịch Hội Văn nghệ, Tổng biên tập Tạp chí Xứ Thanh và trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mãi tới năm Bính Thân (2016), lão “Le Nha Que” - Từ Nguyên Tĩnh lại “ngược” ra Thủ đô, lặng lẽ sống trong căn nhà nhỏ bên hồ Đầm Trấu... Nay thì ông “chán” hẳn phố xá, lại trở về “nhà quê”, sống và viết ở Thanh Hóa.

Từ Nguyên Tĩnh đã đoạt được nhiều giải thưởng văn học danh giá, từ giải thưởng hàng năm, 5 năm trao 1 lần (Giải thưởng mang tên Lê Thánh Tông) của tỉnh Thanh Hóa cho đến giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Tiểu thuyết "Cõi người" của ông, từng nhận được Tặng thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (2004 - 2006); "Mối tình chàng Lung Mù", được tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT (năm 2022).

Người lớn tuổi thường nhớ về ký ức, hoài niệm. Từ Nguyên Tĩnh không cá biệt. Cho đến bây giờ ông vẫn nhớ chiếc nồi đất mẹ mua kho cà. “Tôi đi chiến trường xa về không gặp mẹ/ Hết chiến tranh về mẹ chẳng còn/ Chiếc nồi đất vỡ treo trên cọc rào như chiếc mũ/ Đội nắng mưa suốt cả thời gian” (Chiếc nồi đất của mẹ).

Nếu bạn đến Hàm Rồng/ Bạn hãy lên đồi “Xê Bốn”/ Bạn sẽ thấy tấm bia bên tay phải/ Ghi tên những người đã hy sinh”; “Tôi có lỗi/ Vì chưa kể cho ai biết bạn mình/ Cuộc đời họ lành như đất/ Mỗi lần định cầm bút/ Tôi không biết viết được điều gì” (Bạn đến Hàm Rồng).

Ký ức không phải những gì đã qua, mà luôn thức cùng hiện tại. Tuổi thơ với làng quê, phụ thân, bạn học và thầy cô, đồng đội những năm tháng chiến tranh... tiếp tục là nguồn cảm hứng trong thơ, văn Từ Nguyên Tĩnh.

Ngồi ngắm nhìn vách thời gian trên khuôn mặt ông, đọc văn, thơ ông, tôi hiểu thông điệp Từ Nguyên Tĩnh, nâng niu hôm qua mới thêm động lực và sức mạnh để mỗi người sống tốt hơn, ít nhất ở hiện tại.

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).