Trường ca – Cần 1 sự đổi mới

Là một cách tiếp cận, một phương thức chiếm lĩnh đời sống, một kênh giao tiếp với người đọc, thể loại văn học vừa ổn định, bền vững vừa đổi mới trong quá trình phát triển. Do vậy khái niệm thể loại không bất biến mà luôn linh hoạt mở ra đổi thay và tiếp nhận những yếu tố mới do tài năng sáng tạo của nhà văn đem lại.

Vì thế cũng không nên quá lệ thuộc vào cách gọi tên thể loại của tác giả để tiếp nhận nội dung tác phẩm, như L.Tônxtôi không gọi “Chiến tranh và hòa bình” là tiểu thuyết, M. Gorky gọi cuốn “Người mẹ” là truyện vừa... trong khi chúng đều là những tiểu thuyết đích thực, thậm chí tiêu biểu. Hay có tác phẩm đề tên thể loại rõ ràng như “Tây du ký” (Ngô Thừa Ân), “Tây sương ký” (Vương Thực Phủ) nhưng chúng vẫn là tiểu thuyết, còn “Nhật ký người điên” (Lỗ Tấn) lại là truyện ngắn... Thậm chí có trường hợp đấy là một bài thơ như “Chùa Hương” (Nguyễn Nhược Pháp) nhưng tác giả lại nói với bạn đọc rằng, đấy là “thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”... Điều ấy cũng cho thấy một thực tế là đường biên giữa các thể loại cũng mờ nhạt, biến ảo.

Trường ca – Cần 1 sự đổi mới -0
V.Mayakovsky(1893- 1930) nhà thơ Nga, tác giả của nhiều trường ca nổi tiếng!

Nhìn sâu vào thể trường ca vấn đề còn phức tạp hơn bởi đây là sự gặp gỡ, tiếp biến, chuyển hóa của nhiều thể loại, có cả tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, thơ... Trên thế giới có sự phân biệt khá rõ, nếu trường ca để miêu tả đời sống nói chung, ngoài viết về chiến tranh còn có thể viết về lao động, về tình yêu, thậm chí về cả những sinh hoạt đời thường dân giã, thì “sử thi” để nói về các sự kiện lịch sử lớn của dân tộc, cộng đồng.

Thế nên Gogol không ngần ngại gọi tên “Những linh hồn chết”, một tác phẩm văn xuôi là “trường ca” với cái ý nhấn mạnh chất thơ của nội dung của tiểu thuyết này. Có thể chịu ảnh hưởng của quan niệm về thể loại một cách phóng túng của Gogol mà Xuân Diệu dùng “Trường ca” đặt tên cho một tập bút ký, tản văn của mình. Nhưng ở ta thì quan niệm về trường ca có phần hạn hẹp hơn, gần như có sự đồng nhất “trường ca” với “sử thi” là một nên nhiều người gọi luôn là “trường ca sử thi”.

Đứng ở góc độ phương thức phản ánh thì cách hiểu này là có cơ sở bởi lịch sử giữ nước của dân tộc luôn có những sự kiện như những cái mốc bằng vàng đánh dấu một chặng đường đuổi giặc: Nhà Trần đuổi hết giặc Nguyên ở sông Bạch Đằng, Vua Quang Trung đại phá quân Thanh ở Thăng Long; trận Điện Biên Phủ kết thúc chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp ở Đông Dương; trận Điện Biên Phủ trên không nước ta sạch bóng giặc xâm lược Mỹ… Do vậy, dễ hiểu những sự kiện này luôn là cảm hứng sử thi cho văn học nghệ thuật, xét từ sự tương hợp thể loại thì trường ca là đích đáng nhất để phản ánh, sáng tạo..

Đúng vậy, với âm hưởng sử thi vang vọng, hoành tráng, với sự miêu tả không gian, thời gian rộng dài, nhiều sự kiện... trường ca đã làm tốt nhiệm vụ miêu tả, khẳng định giá trị văn hóa của những trận đánh, những chiến dịch, thậm chí cả một giai đoạn lịch sử trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Nhưng cứ mãi như thế sẽ dẫn đến một quan niệm và tư duy thể loại có phần chật chội, xơ cứng, trường ca vẫn được hiểu khuôn theo cái định nghĩa cổ điển: là tác phẩm thơ với dung lượng lớn thường có cốt truyện tự sự. Thậm chí hiểu đơn giản hơn, viết trường ca là kể lại một câu chuyện (thường về đề tài chiến tranh) bằng thơ.

Nếu thế thì phân biệt trường ca khác với truyện thơ ở chỗ nào? Các nhà lý luận dường như chưa có sự phân biệt rạch ròi nên trong các từ điển thuật ngữ văn học gần đây nhất cũng không có khái niệm truyện thơ, trong khi đó trên thực tế vẫn tồn tại cách nói “truyện thơ Nôm”, vẫn gọi “truyện thơ dân tộc Thái” (“Tiễn dặn người yêu”), “truyện thơ dân tộc Mông” (“Tiếng hát làm dâu”)… Có lẽ nên có một sự phân biệt tương đối thế này: về mặt cấu trúc, cùng là kể lại một câu chuyện bằng thơ nhưng truyện thơ coi trọng cốt truyện, giàu chất tiểu thuyết (như “Truyện Kiều”, “Tiễn dặn người yêu”…) còn trường ca giữ độ hài hòa giữa cốt truyện và chất thơ, tính thơ (“Bài ca chim Chơrao” - Thu Bồn, “Đường tới thành phố” - Hữu Thỉnh)... Về mặt đề tài, truyện thơ đi sâu vào yếu tố đời tư còn trường ca thường lấy cảm hứng từ lịch sử cộng đồng.

Trường ca – Cần 1 sự đổi mới -0
Những trường ca có giá trị của Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh.

Nhìn vào lịch sử trường ca thì trên thế giới trường ca và sử thi từng được coi là một. Theo nhiều nhà nghiên cứu, trường ca đã qua ba giai đoạn phát triển. Sử thi cổ đại (từ thế kỷ X về trước) với “Iliad”và “Ôđixê” của Homere, “Mahabrahata” của Ấn Độ, “Đẻ đất đẻ nước” của Việt Nam. Sử thi (trường ca) trung đại là sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn, rồi chủ nghĩa hiện thực từ thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX đã có chất trữ tình và ý nghĩa xã hội với các phẩm chất triết lí, các hình ảnh tượng trưng. Có thể kể trường ca “Cuộc phiêu du của Childe HaroldvàManfred” của G.Byron, “Rusian và Lutmila”của A.Pushkin,“Ai được sống sung sướng ở nước Nga” của N.Nekrasov…

Trường ca hiện đại tính từ thế kỉ XX đến nay thì mở ra thật rộng rãi, ngoài miêu tả các sự kiện lịch sử trọng đại cùng cảm xúc rất đa dạng của tác giả còn là các bình diện khác của đời sống với muôn vàn cung bậc, sắc thái. Các trường ca của V. Mayakovski, P. Nêruda, P. Eluard… là những ví dụ tiêu biểu. Dần dần trường ca được định nghĩa đó là các sáng tác thơ có tầm vóc lớn với hình thức kết cấu phức điệu, dàn hợp xướng nhiều bè, đa giọng điệu, kết cấu đa tầng, sự trùng điệp và luôn biến đổi của các hình ảnh, chi tiết. Trường ca bao chứa những cảm xúc mãnh liệt, dài hơi được thể hiện qua ngôn ngữ giàu tinh thần đối thoại, trí tuệ.

Nhìn chung thế giới chỉ đồng nhất sử thi với trường ca trước thế kỷ X còn sau đó thì phân biệt rõ ràng hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp với thay đổi của tư duy thể loại, đời sống có gì trường ca đều có thể vươn ra chiếm lĩnh miễn là phù hợp với đặc trưng bản thân nó. Nhưng ở ta, như đã nói, chịu sự quy định của lịch sử trường ca phải làm nhiệm vụ công dân của một đất nước gặp nhiều nạn binh đao nên tất yếu phải đề cao yếu tố cộng đồng, nhấn mạnh phẩm chất anh hùng, hướng tới cái cao cả, cái chân lý lịch sử... Nhưng ở ngày hòa bình hôm nay, hòa nhịp cùng bước đi với thế giới, trường ca cần một sự mở rộng biên độ phản ánh với nhiều vẻ đề tài, chủ đề, sự đa dạng tâm trạng, cảm xúc, sự phong phú về cách biểu hiện...

Mặt khác, nếu đồng nhất “trường ca” (bài thơ dài) với “sử thi” thì khó có sự phân biệt về tính chất như bài thơ “Thần” (tương truyền của Lý Thường Kiệt) dù ngắn nhưng đầy ắp tinh thần sử thi: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” hay những câu thơ vang vọng âm hưởng thời đại của Tố Hữu: “Chào 61! đỉnh cao muôn trượng/ Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng/ Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau/ Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu”... Như vậy, rõ ràng cần một sự đổi mới thể loại, mà trước hết là đổi mới nội dung. Trường ca không chỉ nói về lịch sử đuổi giặc hay dựng xây đất nước mà còn nói về muôn vẻ đời thường hay cá nhân trong tình yêu, học tập, lao động, đi lại... bằng nhiều giọng điệu, có cả trang nghiêm và thông tục, ngợi ca và châm biếm, giễu nhại...

Ví như ở ngày hôm nay chúng ta cần những tác phẩm chống tham nhũng như bài thơ “Chống tham ô lãng phí” của Phùng Quán. Bài này được in lần đầu năm 1957 là sự kết tinh những nồng nàn cảm xúc thăng hoa như lửa cháy, của những chi tiết chọn lọc gây ám ảnh, của nhịp điệu mạnh mẽ, ào ạt. Bài thơ dài (76 câu), đích đáng là một trường ca với đầy đủ nhất những phẩm chất của thể loại, có cả ngợi ca, suy ngẫm, ngậm ngùi: “Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn/ Của quần chúng anh hùng lao động/ Đang buộc bụng thắt lưng để sống/ Để xây dựng kiến thiết nước nhà/ Để yêu thương nuôi nấng chúng ta”. Có cả mỉa mai, lên án: “Những con chó sói lãng phí quan liêu/ Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!”.

Gần đây nhất là sự ra mắt trường ca “Cảm ơn Người, sông Mekong” của nhà thơ Lê Tuấn Lộc viết về đề tài du lịch văn hóa. Qua cốt truyện một bi kịch tình yêu của hai nhân vật (Trúc, Mai), tác phẩm đã thơ hóa những hành trình, những điểm đến với những huyền thoại, những phong tục, tập quán, và cả lịch sử. Nó như một cuốn “hướng dẫn”, như một “cẩm nang” theo cách của nghệ thuật trường ca để hiểu thêm, để biết rõ hơn nơi sẽ đến, nơi cần biết. Hơn nữa nó đáp ứng cả những vấn đề mang tính thời sự như kêu gọi sự quan tâm về môi sinh, về vấn đề tâm linh, tôn giáo...

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).