Trứng - hơn một biểu tượng về sự sống

Một giả thuyết có sở cứ cho rằng Hai Bà Trưng xuất thân từ làng dệt lụa truyền thống nên nghề nghiệp in dấu trong cái tên Trứng Chắc (tổ kén có trứng chắc), Trứng Nhì (tổ kén có trứng thứ nhì). Danh từ Trưng Trắc, Trưng Nhị có thể được gọi phiên theo âm tiếng Hán.

Còn chính sử (cả ta và Trung Quốc) ghi ngày 30/1/41 (lịch âm năm Tân Sửu), Trưng Trắc xưng vương dấy quân khởi nghĩa chiếm đánh các thành quách quân Hán. Như điểm khởi đầu của thác nước mạnh mẽ, sự kiện đã tạo thành dòng mạch của tinh thần quật khởi, bản lĩnh tự quyết, của ý chí không chịu khuất phục ngoại bang. Vì thế, các thời đại sau đều tôn trọng, đề cao, coi đó là điểm tựa của lòng yêu nước, lòng quả cảm, lòng tự tôn dân tộc. Ngày nay, hầu hết các địa phương trên dải đất Việt đều có tên địa danh, đường phố... mang tên Hai Bà Trưng như là một cách nhớ ơn, tôn vinh, học tập.

image001.jpg -0
Tranh Đông Hồ.

Nhưng tên gọi Hai Bà Trưng gắn liền với cuộc khởi nghĩa vĩ đại có thể còn mang một chiều sâu biểu tượng nào khác?

Trong nhận thức chung của nhân loại trước nay, trứng là biểu trưng cho sự hoài thai, sinh nở, cho sự bắt đầu, khai sinh, nguyên thủy. Truyền thuyết "Lạc Long Quân và Âu Cơ" kể bà Âu Cơ sinh ra cái bọc có trăm trứng nở ra một trăm con… Câu chuyện này ăn sâu vào tâm thức Việt thiêng liêng đến mức đi suốt đời bất cứ ai.

Không chỉ ở người Kinh mà có ở tập quán nhiều dân tộc của Việt Nam là người ta thường "hỏi thăm" "bà đẻ" bằng chục quả trứng gà vừa để bồi dưỡng vừa ngầm gửi một mong muốn "Mẹ tròn con vuông" may mắn, bình an, thuận lợi. Khi có người "về trời" sẽ cúng bằng "bát cơm quả trứng" với quan niệm phần lòng đỏ quả trứng là Âm, lòng trắng là Dương. Trường hợp này quả trứng mang tính biểu tượng rõ nhất cho sự sinh sôi nảy nở, cho sức sống mãnh liệt. Người sống cầu mong người chết sẽ "đầu thai" vào kiếp khác tốt đẹp hơn.

Lại có trường hợp ý nghĩa biểu tượng mạnh đến mức lấn át cả chi tiết để lái câu chuyện sang bến bờ ý nghĩa mới. Bài ca dao "Mười cái trứng", theo lôgich câu chuyện thì đó là bi kịch: cả mười cái trứng đều hỏng, hoặc bị ung hoặc nở ra thì con diều tha, con quạ bắt. Mất hết. Nhưng câu cuối thật mạnh mẽ nâng bài thơ dậy: "Đừng than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây".

Nếu vậy vẫn chưa đủ để khái quát một phẩm chất lạc quan, sâu xa hơn cần truy tìm ý nghĩa biểu tượng trong lịch sử văn hóa, thậm chí đó mới là cái điểm tựa cơ bản để tìm ra bản chất vấn đề, tức phải soi bằng ánh sáng biểu tượng mang tính mẫu gốc: Gà mẹ sẽ đẻ ra trứng mới, sự sống mới lại được tái sinh. Từ điểm nhìn này cho phép cách hiểu tên gọi Hai Bà Trưng còn mang ý nghĩa: sự kiện Hai Bà khởi nghĩa đã mở ra một thời đại mới tự chủ, tự cường, tức khai sinh ra một sự sống mới, không chỉ cho một người mà cho cả dân tộc, cho cả lịch sử và thời đại!

Trong "Đẻ đất đẻ nước", người Mường quan niệm trứng "đẻ" ra mọi vật: "Thả một trứng lên trời/ Nở ra ông thần Chớp/ Ném một trứng lên trời/ Nở ra ông thần Mây…". Trứng ấy do cặp bố/mẹ (trống chim Tùng/mái chim Tót) sinh ra. Trong "một nghìn chín trăm mười chín trứng tốt" thì có những quả "trứng chiếng" (trứng ung), "trứng pỏ" (trứng thiếu/không đầy). Cuối cùng nhờ chim trống "tào trào" và chim mái "chiền chiện" (những loại chim huyền thoại) thì "trứng chiếng", "trứng pó" mới chịu nở: "Bỗng thấy nứt trứng pỏ/ Thấy nở trứng chiếng/ Nghe lao nhao tiếng Kinh…/ Nghe xôn xao tiếng Thái…". Thế là trứng đã nở ra các tộc người trên đất Việt. Tại sao trứng nở tốt lại gọi là "trứng ung", "trứng thiếu"? Rất có thể liên quan đến tập quán gọi con (mới đẻ) bằng cái tên xấu (như người Kinh) để khỏi bị ma quỷ bắt?!

Nhìn rộng ra trên thế giới thì hầu như nước nào cũng có biểu tượng trứng mang ý nghĩa sự sống. Người phương Đông nào cũng biết đến hình tròn âm dương, gọi chữ là Thái cực đồ - một vòng tròn, gồm hai nửa đen (âm) đỏ (dương) đối xứng ôm khít lấy nhau. Trong phần này (âm) lại có một chấm tròn đối lập (dương). Quả trứng chính là một mô hình thu gọn của Thái cực đồ!

Thần thoại "Bàn Cổ" của Trung Quốc đã có hình tượng quả trứng vũ trụ. Mỗi ngày nhân vật Bàn Cổ được miêu tả thường thức dậy trong vỏ trứng. Ngày nay giới khảo cổ Trung Quốc cho biết khi khai quật mộ cổ nếu mộ nào có trứng (đựng trong khay, trong hũ) thì đó là một biểu hiện đẳng cấp của người chết, thường là nhà giàu hay có vị thế quan lại.

Người Hy Lạp cổ đại cũng đặt trứng trong những ngôi mộ hoặc chôn theo những ổ trứng bên cạnh mộ. Người Maori cổ đặt vào tay người chết một quả trứng trước khi chôn. Một bộ phận người Do Thái đến nay vẫn còn giữ tập tục ăn trứng sau đám tang với ý nghĩa biểu thị cho sự mất mát (ăn đi) và cuộc sống tái sinh (trứng sẽ nở sự sống mới). Người Triều Tiên có thần thoại về người đẻ trứng mà những vị vua sáng lập ra các vương quốc Goguryeo, Gaya, Silla được sinh ra từ những quả trứng.

Ngày nay ở Úc, thổ dân Dreamtime vẫn còn quan niệm quả trứng là biểu tượng của mặt trời. Một vị thần lấy một quả trứng từ trong tổ ném lên trời. Lòng đỏ của quả trứng đập vào gỗ, bắt lửa và biến thành mặt trời. Một vài bộ lạc sinh sống tại quần đảo Society thuộc Nam Thái Bình Dương còn lưu giữ thần thoại về người tạo ra thế giới là Ta'aroa cũng sinh ra từ một quả trứng, trứng vỡ ra làm đôi hình thành trời và đất. Ngày nay trò chơi ném Boomerang (một vật chơi bằng gỗ thường có hình tam giác) vẫn rất phổ biến của thổ dân châu Úc: người chơi ném nó quay một vòng trong không gian rồi nó trở về đúng vị trí cũ. Thậm chí chính xác đến mức chém vỡ đôi quả trứng người chơi đặt trên đầu. Mà quả trứng là biểu trưng cho vũ trụ. Người nào tài năng ném vỡ quả trứng ấy tức đã chinh phục được vũ trụ!

Theo các chứng tích khảo cổ học, quả trứng lâu nhất được tìm thấy ở châu Phi (khoảng 60.000 năm). Từ thời cổ Ai Cập và các nền văn hóa sớm nhất của vùng Lưỡng Hà, trứng đã sớm có ý nghĩa về sự sống và tái sinh và với cả vương quyền. Người ta tìm thấy trứng đà điểu được trang trí và bọc vàng, bạc, thường được đặt trong mộ của người Sumer và Ai Cập cổ, có niên đại khoảng 5.000 năm trước.

image003.jpg -1
Trứng Phục sinh.

Nhiều tôn giáo cũng quan niệm trứng là biểu tượng của sự sống, tiêu biểu là Kito giáo. Thuật ngữ "Easter Egg" có nghĩa là "quả trứng phục sinh", một loại trứng được sử dụng trong ngày lễ Phục sinh - ngày lễ trọng của Kito giáo. Đó là một biểu tượng truyền thống về khả năng sinh sản và tái sinh. Người ta lấy trứng rồi đem nhuộm hoặc sơn vỏ, hoặc làm giả trứng bằng kẹo sôcôla bọc trong giấy bạc, hoặc trứng đẽo bằng gỗ, bằng nhựa rồi trang trí các hoa văn rất đẹp.

Chiểu theo thánh tích đạo Kito thì trứng Phục sinh tượng trưng cho ngôi mộ trống của Chúa Giê-su mà từ đó Ngài sẽ sống lại. Thời cổ xưa trứng Phục sinh được nhuộm màu đỏ biểu trưng cho máu của Chúa khi bị đóng đinh, ngày nay thì màu sắc trứng đa dạng hơn nhiều. Lễ Phục sinh được tổ chức để tưởng niệm ngày Chúa Giêsu tỉnh dậy sau khi bị đóng đinh trên Thánh giá. Người lớn luộc trứng và trang trí chúng với nhiều màu sắc rực rỡ rồi mang giấu ở ngoài vườn để lũ trẻ thức dậy đi tìm trứng (tức đi tìm sự sống mới) với niềm háo hức hân hoan.

Quay trở về tập quán văn hóa của ta, cái nét riêng về trứng so với thế giới là dùng trứng gà, từ đời thường (thăm hỏi, lễ tết) đến tâm linh (thờ cúng). Từ điểm nhìn này cho thấy "Sự tích trăm trứng" gắn liền với "Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ" đã ra đời từ rất lâu, chung môtif "trứng" (nói chung) với thế giới cổ đại. Sau này khi nghề cấy lúa trở thành nghề chính thì xứ ta là xứ nông nghiệp, hầu như nhà nào cũng nuôi gà nên gà trở nên thân thiết rồi được nâng lên mức thiêng hóa (như trong một vài thần thoại).

Hơn nữa, sau này Nho giáo phương Đông xếp gà (trống) vào loại "quân tử" có nhiều "hiểu biết", biết sự sáng tối của trời đất, biết gọi mặt trời mọc, biết báo cho con người bình minh sắp đến… Mà mặt trời thì luôn "thiêng". Là "sứ giả" giữa trời và người nên tất yếu con gà cũng "thiêng". Hơn nữa gà đẻ trứng để tạo dựng một sự sống mới nên càng được kính trọng. Đi vào nghệ thuật hội họa, gà trống tượng trưng cho sự no đủ, may mắn, đàn gà mẹ con quấn quýt nhau biểu trưng cho gia đình hạnh phúc, viên mãn.

Ngày nay thành ngữ "Gà đẻ trứng vàng" mang tầm phổ quát quốc tế có ở mọi quốc gia chỉ một bộ phận (chi nhánh) trực thuộc luôn có khả năng cho ra đời những sản phẩm tốt, mới tạo ra dòng lãi cao, ổn định…

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).