Tính chân thực đời sống trong thơ Nguyễn Đức Thịnh

Thơ cũng như bất kỳ thể loại Văn học- Nghệ thuật (VHNT) nào đều có những yếu tố khác nhau tạo nên giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của chúng với nhiều cấp độ, chiều kích và sắc thái khác nhau. Đối với Nguyễn Đức Thịnh, tính chân thực đời sống về tâm tưởng, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu... là những cái làm nên giá trị tác phẩm thơ của anh.

Nguyễn Đức Thịnh nguyên là một sĩ quan Công an, có thời gian công tác ở vùng rừng núi Tây Bắc chừng 20 năm, sau đấy, anh chuyển công tác về Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu. Môi trường công tác đã cho anh cơ hội đi nhiều, biết lắm. Đọc thơ anh, tôi có cảm tưởng như đang xem một bộ phim phóng sự dài tập về những vùng đất anh từng đi qua và nhiều con người anh từng gặp mặt, trên khắp mọi miền của đất nước và cả ở ngoài nước.

Tính chân thực đời sống trong thơ Nguyễn Đức Thịnh -0
Nhà thơ Nguyễn Đức Thịnh.

Có thể nói tập sách tuyển “Thơ Nguyễn Đức Thịnh” là một bộ phim phóng sự bằng thơ. Và đương nhiên còn có cả tiếng nói của người thân, bạn bè, đồng nghiệp góp vào, làm cho tập sách trở nên đa thanh sắc hơn và cũng dày dặn, bề thế hơn.

Bởi tính chất đặc trưng của thể loại phóng sự nói chung và phóng sự nghệ thuật nói riêng dù được thể hiện bằng chất liệu nào: văn xuôi, thơ, hình ảnh, âm thanh, màu sắc… thì nó vẫn rất cần đến sự chân thực đời sống của con người như nó vốn từng tồn tại, đã và đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trước mặt chúng ta. Đấy vừa là điểm mạnh cũng vừa là điểm yếu của thể loại phóng sự nghệ thuật bằng thơ.

Điểm mạnh của thể loại này là tác giả hoàn toàn có thể nắm bắt một cách nhanh nhạy nhất những gì đang diễn ra quanh mình và ghi chép chúng lại bằng thơ, nên nhiều câu, nhiều bài thơ của Đức Thịnh có vẻ xù xì, thô ráp như bản thân cuộc sống vậy.

Điểm yếu của thể loại này là những sự kiện của đời sống thường diễn ra mau lẹ, cứ như thôi thúc người viết phải chộp lấy, ghi lại bằng thơ. Có khi những sự kiện, cảnh vật, con người ấy chực muốn nhảy ùa vào trong tác phẩm, khiến tác giả chưa kịp chọn lọc, chưng cất chúng lên, phổ cho chúng hồn vía của chủ thể sáng tạo - nhà thơ, cấp cho những giá trị thẩm mỹ cần có đối với một tác phẩm nghệ thuật vi diệu như thơ.

*Đọc hết tập sách tuyển “Thơ Nguyễn Đức Thịnh”, tôi nhận thấy nhà thơ là người rất nặng nợ với quê hương đất nước, người thân, những người lao động cần lao, cũng như đồng nghiệp. Gánh nặng tình nghĩa ấy đã bất chấp, vượt qua những giới hạn về nghề nghiệp, tuổi tác, cũng như những khó khăn, vất vả của đời sống thường nhật, mà đối với không ít người chúng chính là rào cản khó có thể vượt qua một cách dễ dàng.

Nhưng với vị sĩ quan Công an, Nguyễn Đức Thịnh đã biết biến cái “nguy” (nguy hiểm, nguy cấp) và cái “thời” (thời vận, thời cuộc, thời đại) thành cái “cơ” (cơ hội, cơ may, cơ duyên, cơ nghiệp) một cách khá trơn tru và có những thành công nhất định.

Có không ít những bài thơ Nguyễn Đức Thịnh viết ra thật đến mức như không thể nào thật hơn được nữa. Ngôn ngữ thơ đã dường như tiệm cận với ngôn ngữ của đời sống thực. Giọng điệu thơ không khác là bao so với giọng điệu hò vè, tục ngữ, ca dao, chuyện kể dân gian. Ngôn ngữ và giọng điệu ấy vốn là công cụ giao tiếp và là giá trị văn hóa đã được ông cha ta đúc kết và tinh luyện hàng ngàn đời nay. Nó là tài sản vô giá và kho tàng phong phú bậc nhất cho các văn nghệ sĩ chúng ta khai thác, học tập và noi theo.

Tôi có thể dẫn ra đây một trong số hàng chục minh chứng rõ nét nhất cho nhận định của mình:

Tôi lại về với trung du
Lần theo một cánh diều thu ngang trời
Cánh diều chở tuổi thơ tôi
Từ Đồng Cam đến chợ đời Cầu Tây
Sông Thao đôi mái chèo gầy
Bên kia đồi cọ bên này đồng xanh
Lần theo dấu những giọt gianh
Gặp xôn xao nét thị thành hôm nay
Cây đa bến nước còn đây
Bạn xưa bặt bóng chim bay cuối trời.

(Một thoáng trung du)

Đây là những câu thơ tả cảnh miền quê trung du xưa ở Cẩm Khê, Phú Thọ, nơi nhà thơ đã từng được sinh ra và lớn lên ở đó, nơi có dòng sông Thao, chợ Cầu Tây, có cánh diều chở tuổi thơ no gió, mái nhà gianh, con đò, đồi cọ, cây đa, bến nước... Chỉ từng ấy hình ảnh thôi cũng đủ làm nên một bức tranh thủy mặc về một vùng quê sơn thủy hữu tình, mà không ít người trong chúng ta đã từng có những kỷ niệm tuổi thơ một thời như thế.

Có thể nói gần phân nửa số bài trong tập sách tuyển “Thơ Nguyễn Đức Thịnh” là những bài viết trực tiếp, hoặc có liên quan đến quê hương thứ nhất là Phú Thọ và quê hương thứ hai Sơn La và các tỉnh vùng Tây Bắc Tổ quốc và những miền quê khác cùng các bậc sinh thành và người thân, họ hàng và bằng hữu: “Tà Xùa”, “Trăng nghiêng”, “Nhớ Tây Bắc”, “Cam Chú quê tôi”, “Mẹ tôi”, “Gừng cay”, “Về quê nội”, “Tiếng sáo chiều quê”, “Dưới ánh trăng”, “Nét quê”, “Sơn La của mẹ”, “Có ai về Mai Sơn”, “Dòng sông bùn”, “Thăm lại trường xưa”, “Gió sông Bùi”, “Tuổi thơ tôi”, "Nói với con”, “Trang giấy mùa thi”, “Chợ quê”, “Nhớ con”, “Vòng tay ấm”, “Với cha”, “Về quê thích lắm”, “Vợ quê”.

Ngoài ra, số bài viết về nghề nghiệp, đồng nghiệp cũng là mảng đề tài lớn đã được nhà thơ Nguyễn Đức Thịnh quan tâm và gửi gắm nhiều tâm sự. Chẳng hạn như: “Trên đường tuần tra”, “Lá thư sau phiên gác”, “Đêm trực ban”…

Tính chân thực đời sống trong thơ Nguyễn Đức Thịnh -1
Trang bìa tập thơ của tác giả Nguyễn Đức Thịnh.

Tuy nhiên một bài thơ có vẻ như không liên quan đến hai mảng đề tài, chủ đề trên, nhưng lại được nhiều người thích, trong đó có tôi. Bởi lẽ có thể nói đó là bài “thơ nhất” trong số hơn 100 bài thơ có mặt trong tập sách này. Bài “Trăng nghiêng”:

Cầu treo bắc ngang dòng suối
Dập dềnh theo bước chân em
Địu củi trên lưng nặng trĩu
Mồ hôi ướt đẫm vai mềm.
Hôm nay đi nương về muộn
Trăng soi cho em dọc đường
Trên cầu trăng như nhảy múa
Dưới dòng nước sáng như gương.
Qua cầu em ra suối tắm
Váy em quấn chặt trên đầu
Trăng giờ… sao nghiêng, nghiêng thế?
Không như lúc ở trên cầu!

Bài thơ có 3 khổ, mỗi khổ 4 câu thơ, vị chi cả bài chỉ có 12 câu thơ miêu tả cảnh một cô gái người dân tộc Thái lên rừng lấy củi giữa ngày nóng bức, khiến mỗi hôi của cô gái “ướt đẫm vai mềm”. Trên đường về đã vào lúc chiều muộn, vì trăng đã sáng tỏ, cô gái xuống suối tắm.

Câu chuyện, sự việc được mô tả trong bài thơ tưởng như chẳng có gì để nói. Ấy vậy mà dưới con mắt của người chiến sĩ Công an- thi sĩ đa tình Nguyễn Đức Thịnh, cái “sự tắm” tưởng chừng như quá đỗi bình thường ấy, lại trở thành nguồn thi hứng dồi dào, để thi sĩ viết nên một bài thơ có thể gọi là “xuất thần”. Ngôn ngữ dung dị của bài thơ như đã vẽ nên một bức tranh thủy mặc đầy gợi cảm.

Hai khổ đầu của bài thơ vừa miêu tả thời gian và không gian diễn ra sự việc mang tính chất dẫn chuyện. Điều ấy gây nên sự tò mò ở người đọc muốn biết nhà thơ đang dẫn dụ mình đi tới đâu đây. Bất ngờ ở khổ thứ ba, tác giả mới hiển lộ ra ba hình ảnh, cũng là ba hình tượng, nhân vật chính của bức tranh thủy mặc này.

Đấy là hình tượng Trăng, cô gái Thái và người chiến sĩ Công an. Trăng thì luôn vô tình như nó vốn có từ xưa đến nay, vì đấy là một hiện tượng tự nhiên của đất trời, vũ trụ. Còn cô gái Thái thì vô tư, hồn nhiên xuống tắm. Chỉ có người chiến sĩ Công an- thi sĩ Nguyễn Đức Thịnh là vô cùng ngỡ ngàng trước cảnh và tình ấy nên đã không thể không viết thành một bài thơ hay đến thế: Qua cầu em ra suối tắm/ Váy em quấn chặt trên đầu/ Trăng giờ… sao nghiêng, nghiêng thế?/ Không như lúc ở trên cầu!

Thi sĩ đã ngỡ ngàng đến mức cuống quýt không biết ai nghiêng: Trăng, cô gái hay là chính mình đã nghiêng. Thi sĩ không đời nào dám nhận mình nghiêng, xấu hổ chết. Cũng không thể đổ tại cô gái Thái, sợ cô ý cãi lại thì sao? Cuối cùng chỉ có đổ vạ cho Trăng, vì nhà thơ thừa biết rằng Trăng muôn đời nay nào đâu biết cãi lại con người.

Còn với tôi, người viết bài này đồ rằng cả ba cùng nghiêng với những góc nhìn và mức độ khác nhau. Tôi dám cam đoan rằng trước cảnh: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dầy dầy sẵn đắp một tòa thiên nhiên” (Truyện Kiều - Nguyễn Du) ấy mấy ai không nghiêng, kể cả vầng Trăng kia.

Nguyễn Đức Thịnh đã chọn cho mình thể thơ “lục ngôn” để vẽ nên bức tranh thủy mặc này khá đắc dụng, thiết tưởng cảnh vật và tình người ấy, không một thể thơ nào khác có thể để vừa miêu tả, vừa nêu bật lên được ý tưởng chủ quan của tác giả đến như vậy.

Có thể nói tập sách tuyển “Thơ Nguyễn Đức Thịnh” là một công trình công phu, lao động nghệ thuật nghiêm túc, có nhiều bài khá hay, xứng đáng đây là một tập sách tuyển thơ, đáng để cho mọi người tìm đọc so với mặt bằng thơ hôm nay. Xin chúc mừng tác giả và hy vọng nhà thơ sẽ đem đến cho bạn đọc những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao trong tương lai.

Đỗ Ngọc yên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).