Chuyện về Anh hùng Hai Riêng
Trên chiếc bàn gỗ cạnh bàn thờ ba mẹ, ông Lê Chí Công, con trai của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Lê Thị Riêng cẩn thận đặt trước mặt chúng tôi một tập hồ sơ. Bên trong là những bức ảnh đen trắng đã ngả màu, những trang báo cũ, những lá thư còn nguyên màu mực và cả những dòng ghi chép mà ông sưu tầm, lưu giữ suốt nhiều năm.
Những mảnh ghép về cuộc đời người mẹ anh hùng được ông Lê Chí Công trân trọng, lưu giữ trong các tập tài liệu quý. Đó không phải tư liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử, đó là hành trình của một người con đi tìm lại đấng sinh thành.
Anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng (sinh năm 1925, tại Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) tên thường gọi là Hai Riêng hay Hai Liên, Trưởng Ban Phụ vận Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một trong những người phụ nữ giữ vai trò quan trọng của phong trào cách mạng miền Nam những năm chống Mỹ.
Bà cũng là một người mẹ, dành tình thương trọn vẹn cho con thơ và tình yêu hết mực thủy chung với chồng. Nhưng, chiến tranh đã khiến gia đình bà gặp nhiều mất mát, đau thương.
Mùa xuân năm 1961, sau đợt công tác dài, bà Hai Riêng trở về cơ quan ở miền Đông. Bà mừng khấp khởi nghĩ sẽ được gặp chồng. Đi công tác xa, bà dành dụm được một số tiền. Trên đường về, bà mua cho chồng một bộ quần áo và chiếc màn đôi. Đây là chiếc màn đôi đầu tiên từ ngày vợ chồng sống trong rừng. Bà lấy kim khâu màn, đôi mắt hân hoan. Người bạn gái cùng cơ quan nhìn bà khâu đã phải quay đi lau nước mắt, cô không dám nói về nỗi đau thương mất mát quá lớn đã ập tới cuộc đời bà.
Khi ấy, bà Hai Riêng chờ thêm mấy ngày nữa vẫn chưa thấy chồng về. Linh tính của người vợ mách bảo, bà đã gặp cấp trên để hỏi. “Có điều gì không hay xảy đến với nhà tôi, xin các anh đừng giấu. Các đồng chí cứ tin là tôi đủ sức chịu đựng”. Cuối cùng, tin đau buồn ấy cũng được nói ra: “Anh Tam đã hy sinh”.
Đó là đêm trăng rằm, chỉ sau ngày vợ chồng chia tay nhau chưa đầy 2 tháng. Khi bình tâm lại, bà đã viết những dòng nhật ký thương xót đến quặn lòng về chồng: “Một kỷ niệm xót xa. Ngày 28 tháng 10 năm 1960, vợ chồng tôi chia tay nhau giữa khu rừng quen thuộc ở miền Đông và cũng là ngày chúng tôi vĩnh biệt nhau mãi mãi. Chúng tôi đã nhiều lần hợp tan như thế, nhưng chuyến đi này tôi cảm thấy quyến luyến, xót xa vì mới xa con, lại phải xa chồng. Sáu tháng đi công tác, tôi trở về khu rừng cũ. Tôi nuôi hy vọng đầu tiên là sẽ gặp được chồng. Đến nơi, tôi được biết anh đi công tác chưa về, phải kéo dài thời gian chờ đợi, cứ thế mà mỗi ngày một biệt... Bảy năm trời chung sống, bao nhiêu tình sâu nghĩa nặng của vợ chồng tôi đã kết thúc trên đời. Còn lại hai con đang sống xa mẹ. Chúng là nguồn hạnh phúc, là sức mạnh chiến đấu giúp tôi hăng hái đi lên không bao giờ quỵ bước”.
Từ giây phút ấy, tình yêu dành cho gia đình không còn chỉ là nỗi nhớ riêng tư, mà trở thành động lực để bà tiếp tục đi hết con đường đã chọn. Ít năm sau, khi quân đội Mỹ chính thức đổ bộ vào miền Nam và chiến tranh bước sang giai đoạn khốc liệt nhất, bà Lê Thị Riêng nhận nhiệm vụ trở về Sài Gòn - Gia Định, giữ cương vị Trưởng Ban Phụ vận Khu ủy.
Năm 1965, giữa lòng đô thị Sài Gòn, bà Lê Thị Riêng vừa là người chỉ huy đóng nhiều vai, dưới nhiều vỏ bọc khác nhau. Người phụ nữ nhỏ bé ấy liên tục xuất hiện ở các khu lao động, các xóm nghèo, những khu chợ đông đúc hay trong các gia đình công chức, viên chức của chính quyền Sài Gòn. Bà gây dựng từng cơ sở, kết nối từng đầu mối, trực tiếp đào tạo cán bộ phụ nữ, tổ chức các cuộc đấu tranh chính trị và mở rộng mạng lưới quần chúng ngay dưới sự kiểm soát gắt gao của quân cảnh và mật vụ.
Có những đêm, sau khi kết thúc công việc, bà lại mở cuốn sổ tay nhỏ, lặng lẽ viết vài dòng về các con. Không ai biết bà đã bao lần khóc nhớ con, nhớ đến gương mặt của chúng, tự hỏi giờ này chúng đã lớn đến đâu, có nhớ mẹ không.
“Minh Chánh con. Con viết nhiều, mẹ mừng quá, chữ con viết đẹp và sạch sẽ. Mẹ nhớ con, nhớ cả cái gối con nằm, cái mền con đắp, cái áo con mặc, cái bô con tiêu. Mẹ mong nước nhà thống nhất để được rước hai con về nuôi. Mẹ hôn hết hai con và bạn bè của con...”, những dòng thư bà Hai Riêng gửi con trai ở miền Bắc.
“Có cái chết hóa thành bất tử”
Trong hồ sơ của các cơ quan tình báo Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, Lê Thị Riêng không đơn thuần là một cán bộ phụ nữ. Với vai trò lãnh đạo phong trào quần chúng tại địa bàn trọng yếu nhất miền Nam, bà được đánh giá là một nhân vật có ảnh hưởng lớn đến khả năng tổ chức và huy động lực lượng nội đô. Việc vô hiệu hóa người phụ nữ này trở thành một trong những mục tiêu ưu tiên của hệ thống an ninh Sài Gòn. Cuộc săn lùng kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Đến một ngày tháng 5/1967, khi đang hoạt động tại khu vực chợ Đa Kao, bà đã bị kẻ phản bội chỉ điểm. Chỉ trong khoảnh khắc, vòng vây khép lại, người phụ nữ đã nhiều năm qua mặt biết bao cuộc truy lùng bị rơi vào tay giặc.
Ngay sau khi bắt, chúng đưa bà về hệ thống thẩm vấn của Tổng nha Cảnh sát. Các cơ quan an ninh Sài Gòn phối hợp với tình báo Mỹ hy vọng có thể khai thác từ người phụ nữ này những thông tin đủ để bóc gỡ cả một mạng lưới hoạt động ngầm đang ngày càng phát triển trong nội đô. Những cuộc tra khảo tàn nhẫn như cho điện giật, nhấn nước, đánh đập, đốt cháy từng đầu ngón tay... Hết đợt này đến đợt khác, mọi hình thức tra tấn đều được sử dụng với hy vọng khuất phục ý chí của người phụ nữ kiên trung. Nhưng, đáp lại tất cả vẫn là sự im lặng. Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, địch đưa bà lên xe chở đi thủ tiêu. Người chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của nhà cách mạng Hai Riêng là nữ biệt động Phùng Ngọc Anh.
Ở tuổi 86, trong ký ức bà Ngọc Anh, khoảnh khắc chứng kiến sự hy sinh của Anh hùng Lê Thị Riêng và đồng đội vẫn ám ảnh không nguôi. Hễ có ai nhắc đến họ, bà vẫn nghe rõ tiếng chuông đồng hồ ngoài phố ngân đúng 11 tiếng, cái nắm tay của chiến sĩ Trần Văn Kiểu (Ủy viên Ban Chấp hành Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, kiêm Phó Ban Công vận Sài Gòn - Gia Định) và lời hô cuối cùng của nữ chiến sĩ Lê Thị Riêng.
“Đêm ấy, khi loạt súng đầu tiên ngừng lại. Chị Hai Riêng dũng cảm ngồi dậy, đạp mạnh vào xe đòi mở cửa. Không một tiếng đáp. Loạt đạn thứ hai lại trút xuống. Chị Riêng hô lớn 3 lần “Hồ Chí Minh muôn năm!”, trước khi một tên lính tiến lại, dùng súng trái khế bắn thẳng vào người chị.
Tôi nửa mê nửa tỉnh, tay chạm vào người đồng chí Kiểu và chị Hai Riêng nằm cạnh nhau, thân thể đã lạnh dần. Nhìn thấy chiếc kẹp tóc trên đầu người chị lớn, tôi tháo ra rồi thì thầm vào mái tóc chị: ‘Chị Hai ơi, em lấy cây kẹp của chị nha. Nếu còn sống, em đem về làm kỷ niệm...’, đó là kỷ vật duy nhất tôi có được từ chị Hai Riêng”, nữ biệt động thành, người bị áp giải cùng thời điểm với liệt sĩ Lê Thị Riêng kể lại sự kiện đồng đội hy sinh.
Góp nhặt ký ức về cha mẹ
Hơn nửa thế kỷ, ông Lê Chí Công ôm ấp những kỷ vật mẹ để lại, còn ký ức và hình bóng, đức tính cùng sự hy sinh của mẹ, ông biết được qua lời kể của đồng đội. “Mẹ Mai Khanh (vợ đồng chí Phạm Hùng, cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), mẹ Đỗ Duy Liên (nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh) là những người đồng chí, người bạn thân thiết của mẹ tôi, kể rằng, mẹ tôi là người phụ nữ nghiêm túc trong công việc nhưng lại vô cùng dịu dàng khi ở bên chồng con. Những lúc hiếm hoi được sum họp, bà tự tay chăm sóc từng bữa cơm, từng manh áo cho các con như muốn bù đắp những tháng ngày thường xuyên phải xa nhà. Đối với bà, hạnh phúc giản dị nhất chính là được nghe tiếng trẻ thơ trong căn nhà nhỏ giữa vùng căn cứ”, ông Lê Chí Công tâm sự về mẹ.
Xa vòng tay của mẹ, nên hình ảnh về mẹ trong trí nhớ ông Lê Chí Công chỉ được nghe qua lời kể của đồng đội mẹ. Ký ức về ba của ông Công lại càng mờ mịt, xa xăm hơn vì ba đi công tác biền biệt, ngày chia tay cuối cùng vào năm 1960, khi ấy ông Lê Chí Công lên 4 tuổi, anh trai Lê Minh Chánh lên 5. “Hồi trẻ, mẹ tôi là người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ nhưng lại yêu thơ văn, thích đọc sách. Khi nào rảnh, mẹ lại lấy sách ra đọc và lấy bút ra ghi chép. Điều này thể hiện trong những bức thư mẹ viết cho chúng tôi và cuốn nhật ký đầy chữ của mẹ. Còn ba tôi là người đàn ông xuất thân trong gia đình trí thức. Tôi vẫn đang tìm kiếm các thông tin cũng như tài liệu về chuyện tình và ngày cưới của ba mẹ trong chiến khu”, ông Lê Chí Công chia sẻ.
Ba của ông Lê Chí Công tên thật là Lê Trọng Tam, thường gọi Lê Văn Ba, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh kháng chiến tỉnh Rạch Giá. Ông hy sinh đêm 4/12/1960, khi trên đường đi công tác thì bị địch phục kích. Ông chống cự đến viên đạn cuối cùng và ngã xuống bên xóm nhỏ Đông Yên, xã Đông Hòa, Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đông Hòa, TP Hồ Chí Minh).
Ông Lê Chí Công đã nhiều lần lặn lội đi tìm hài cốt của ba theo cuốn nhật ký của mẹ. “Ngày nhận tin ba mất, mẹ tôi đã chạy về khu vực Đông Hòa để tìm kiếm. Mẹ đã ghi chép tỉ mỉ trong cuốn nhật ký về nơi ba được chôn cất. Tôi đã tìm thấy bia mộ ghi thông tin về liệt sĩ Lê Văn Ba. Đối chiếu các dữ liệu và lời kể của nhân chứng, tôi xác nhận phần mộ của ba mình và xin phép đưa ông về nằm cùng mẹ tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố”, ông Lê Chí Công kể về hành trình đưa ba về bên mẹ.
Sau ngày hòa bình, anh em ông Lê Chí Công trở lại Sài Gòn và được các đồng đội của ba mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc. Cũng từ những ngày đầu của tuổi 20 ấy, người con trai đã bắt đầu tìm kiếm thông tin về ba, mẹ. Cho đến tận bây giờ, ông vẫn miệt mài nhặt nhạnh từng mảnh ký ức của những người còn sống, gom góp thêm một chi tiết về mẹ, một lời kể về ba, để khoảng trống trong lòng được lấp đầy thêm một chút.