Đọc tập thơ “Xanh mãi” của tác giả Nguyễn Hồng Vinh, NXB Văn học, 2019

Tiếng thơ chân tình, ân nghĩa!

Tôi đọc thơ Nguyễn Hồng Vinh đã lâu, từ những bài in trên báo, rồi được chọn in thành tập với những tên giản dị mà gợi, như “Từ những nẻo đường” (2010), “Thao thức dòng đời” (2010), “Nhịp điệu thời gian” (2013)… Hôm nay lại được đọc và ngẫm về “Xanh mãi”, tập thơ vừa xuất bản của anh. 

Tám tập thơ đã xuất bản, đa dạng về đề tài, phong phú về bút pháp, chặt chẽ về cấu tứ, có tính triết lý, lắng đọng…, nhưng vẫn có được cái giọng riêng khó lẫn - đó là giọng chân tình, ân nghĩa. Nó như cái mạch chìm thao thiết ngầm chảy trong hồn thơ nên dù có nói về đề tài nào thì người đọc vẫn nhận ra nét đặc trưng đó. Không biết thế đã đủ khái quát thành phong cách chưa, nhưng có lẽ nói cái riêng của thơ Nguyễn Hồng Vinh thì đấy là điều cần nhấn.

Giọng điệu, nhất là giọng điệu trong thơ được các nhà lý luận văn chương coi đó như yếu tố nền tảng tạo thành tác phẩm. Thiếu giọng hoặc chưa đủ giọng thì chưa thể có thơ hay. Tôi hiểu giọng là của riêng nhà thơ, không phải trời cho cũng chẳng phải đời cho, mà tự anh ta sống với đời thế nào thì có cái giọng thế. Sự trải nghiệm văn hoá (vốn đời, chất đời, tình đời…) nồng nàn như men rượu chưng cất thành thơ. Mỗi loại rượu lại có hương vị riêng. Thơ cũng vậy, hương vị riêng là chất giọng.

Tôi nghiệm ra trong sáng tạo thơ có hai loại tác giả: Có tác giả chủ ý làm thơ, người làm thơ gọi thơ về. Loại thơ này có kỹ thuật, có hệ thống thi pháp hẳn hoi, thi tứ, thi liệu, thi ảnh lớp lang kỳ công, chặt chẽ, có khi điêu luyện. Có tác giả không cố ý làm mà thơ tự đến.

Bìa tập thơ “Xanh mãi” của tác giả Nguyễn Hồng Vinh.
Bìa tập thơ “Xanh mãi” của tác giả Nguyễn Hồng Vinh.

Người ta cứ nói quá lên là thơ “trời cho”, thực ra là do tác giả giàu có vốn sống, đọc nhiều mà có vốn ngôn ngữ dồi dào, cảm hứng thơ chợt đến, thế là cầm bút ghi lại thành thơ. Dĩ nhiên cách phân loại này chỉ là tương đối.

Tôi xếp Nguyễn Hồng Vinh vào loại sau vì thấy anh làm thơ tự nhiên, không tỏ ra kỳ khu sắp xếp câu chữ; vần điệu, giọng điệu cũng tự nhiên, nhưng không hề dễ dãi vì anh làm chủ được cảm xúc, tiết chế được thi liệu, câu chữ để hướng nó thành… thơ. Anh làm thơ bằng cái tâm hơn là sự công phu gọt giũa ngôn từ, nhưng vẫn biểu hiện được tiếng nói trung thành của cảm xúc, những rung động, những nghĩ suy thẩm mỹ…

Thơ Nguyễn Hồng Vinh ân tình với những người thân, bạn bè, anh em, đồng chí… Bài mở đầu tập thơ thành kính tưởng nhớ và tri ân người Cha đã đi xa 35 năm: “Một thời nước trắng đồng chiêm/ Bóng Cha ngả bóng con thuyền nghiêng chao/ Gió đông dồn tụ khóm bèo/ Áo sờn một tấm tong teo thân già/ Chang chang nắng lửa đồng xa/ Oằn lưng cha đẩy, ướt nhoà mồ hôi…” (Cha vẫn còn đây).

Hình ảnh một người cha cùng con thuyền nhỏ như cái bản lề khép mở hai khoảng không gian, thời gian: mùa đông thì “Gió đông dồn tụ khóm bèo”, tức gió mùa đông bắc đang cữ mạnh, mạnh mới dồn được bèo thành khóm, gây trở ngại cho con thuyền chuyển động. Tất nhiên là rét, rét thế mà áo chỉ có “một tấm”. Mùa hạ thì “Chang chang nắng lửa”…

Cách dùng từ thật gợi: “tong teo” (tính từ), “oằn lưng” (động từ) làm bật lên đặc trưng hình tượng: cái tần tảo vất vả lam lũ ăn sâu vào người cha - một nông dân vùng chiêm trũng, từ dáng người đến hoạt động, hành vi. Phải có sự quan sát kỹ và tinh. Nhưng còn cần cái hồn, cái tình, và đây mới là cái chủ yếu. Đó là cái tình thương thẳm sâu đắng đót có phần ân hận của người con!

Thơ hay tạo ra sự ám ảnh không chỉ ở câu chữ, mà chủ yếu ở cái tình! Bài “Xanh mãi” làm tên cho cả tập càng rõ cái giọng ân tình: “Lối nhỏ năm nào/ Đá lao xao/ Cây xoè tán/ Mát ghế công viên/ In hình bóng Em - Anh/ Thời gian như bóng câu/ Đầu cả hai điểm bạc/ Lời ước nguyện năm nào/ Tim vẫn xanh sắc thắm!”. Vừa là kể, vừa là tâm tình, vừa là tái hiện, vừa là tri ân…

Tình yêu giữa họ bắc cầu qua năm tháng, từ “lối nhỏ năm nào” đến nay “Đầu cả hai điểm bạc”. Tri ân kỷ niệm, tri ân thời gian và tri ân “em” đã cùng nhau vượt qua năm tháng với bao khó khăn, gian nan để vun trồng cây tình yêu cho trái ngọt…

Thơ Nguyễn Hồng Vinh hay nói về người lao động bình thường. Anh trân trọng người con gái trồng hoa có “tiếng cười sáng cả chiều đông” (Cúc hoạ mi), một cô gái bán đào “giữa nắng đông phơ phất/ Cô bán đào cười duyên/ Người đẹp, đào càng đẹp/ Sao không mua một cành!?” (Đào Tam Điệp).

Nhà thơ ghi nhận công lao những người lính giữ gìn hoà bình cho đất nước, thẳm sâu bên trong lời thơ là giọng tri ân những người “đứng đầu ngọn sóng”: “Sắc xuân trải rộng/ Đất nước yên bình/ Chủ quyền giữ vững/ Sông núi trường tồn/ Có các anh đầu sóng!” (Giao ban xuân). Anh có chùm bài tri âm đồng cảm cùng các nhà thơ Bằng Việt, Hà Minh Đức, Lê Thành Nghị, Đỗ Phú Nhuận, Hà Cừ, Trần Thế Tuyển… Có thể gọi đây là lối bình “thơ cảm thơ” của những người “cùng một lứa bên trời…”, “đồng thanh tương khí”, đồng ý, đồng chí, đồng tình. Cảm hứng bao trùm là trân trọng giá trị lao động nghệ thuật của các nhà thơ.

Anh nhận thấy Bằng Việt “Vật vã làm mới thơ mình” để có những dòng thơ “Cuộc đời này bao nghĩa nặng, tình sâu/ Như nước sông bồi phù sa bờ bãi/ Thơ anh mượt xanh và rực vàng hoa trái/ Tặng hậu thế này, còn mãi muôn sau” (Say ngắm hoa tường vi).

Anh nhìn thấy vẻ khác lạ của thơ Hà Minh Đức: “Trăng ùa vào thơ anh đắm đuối/ Trăng tròn và trăng khuyết/ Trăng tắt lức nửa đêm/ Rồi lại sáng ban ngày…” (Những trang thơ ngời ngợi ánh trăng)… Nhưng hay, cảm động, mang tính khái quát cao là bài anh viết về nhà văn, nhà báo lão thành Phan Quang. Anh khẳng định, phải có một quá trình lao động miệt mài, bền bỉ, say mê đích thực mới có thể tạo nên thành quả nghệ thuật: “Trước mặt tôi/ Hàng ngàn trang sách/ Chắt ra từ vạn vạn trang đời…”.

Hiểu theo nghĩa này thì chữ “chắt” là rất đắc địa. Còn với riêng Phan Quang đã có: “Những trang phóng sự/ Thổi mát lòng người/ Sinh nở mùa vàng tươi mới”. Bài thơ khép lại bằng những lời thơ nghĩa tình thay lời cảm ơn, biết ơn một nhà văn hoá, một nhân cách (và cả những ai như vậy): “Vượt xa “cổ lai hy”/ Cửu thập niên trường/ Trí tuệ dồi dào/ Tuôn trào bút lực/ Tằm nhả tơ/ Sáng óng từng con chữ/ Ấm nóng/ Tình đời, tình bạn…” (Còn ắp sức xuân).

Nguyễn Hồng Vinh dành nhiều tấm lòng ân nghĩa với các miền quê. Anh thưởng thức vẻ đẹp Hà Nội bằng sự huy động các giác quan cảm nhận cái “chớm thu”: “Đàn sâm cầm Hồ Tây chao nghiêng mỗi sớm (thị giác)/ Đường Bà Triệu sấu rơi (thính giác)/ Cốm làng Vòng toả hương xóm, phố (khứu giác)” (Chớm thu). Anh lên Vị Xuyên để nhớ về ngày đuổi giặc: “Quên sao những ngày nối đêm/ Ù tai đạn cày, pháo dập/ Hang đá như lò vôi nóng/ Đồng đội bao người hy sinh” (Thiêng liêng hoà bình).

Anh đưa bạn đọc trở về ngày bao cấp khó khăn mà ân nghĩa: “Gần 40 năm về trước/ Khu tập thể Nam Đồng/ Xếp hàng lấy nước thâu đêm/ Bữa bữa cơm mỳ cõng gạo/ Mà tiếng cười vẫn trong trẻo vang vang”. Anh ân tình với “Khúc ruột miền Trung” (tên bài thơ) gian khó trăm bề: “Quơ tay là vốc nắng/ Rát bỏng cả thịt da/ Gió Lào nung đất nóng/ Tung cát bụi khắp nhà”.

Ân tình nhớ về ân tình. Miền Trung hôm nay vượt qua cái khắc nghiệt của thiên nhiên để giàu có hơn, và luôn nhớ về những miền quê khác từng chia sẻ: “Nay lúa ngô ngút ngàn/ Kết mồ hôi, sức óc/ Những sẻ chia tình nghĩa/ Từ mọi vùng xa xăm”…

Cái ân tình, ân nghĩa thể hiện đằm sâu trong chùm bài “về nguồn”, anh viết tri ân mảnh đất nơi anh cùng bạn bè đồng nghiệp học tập khi sơ tán thời chiến tranh: “Nhớ bao cái tên thân thương/ Đầm Sủi, Tràng Dương, Trại Chuối/ Lớp học chìm sâu lòng đất/ Đèn dầu thao thức canh khuya”. Thay mặt bạn bè, anh ghi ơn, nhớ ơn nơi nuôi các anh học tập: “Thấm thoắt hơn năm thập niên/ Mái đầu bao người sương tuyết/ Đâu quên một thời oanh liệt/ Giúp ta khôn lớn nên NGƯỜI!”…

Sâu sắc trong ân tình mà nhà thơ bật ra những triết lý đáng ngẫm. Khi qua cầu Long Biên, anh nhớ về cây cầu treo hàng vạn chiếc khoá tình yêu trên sông Đanuýp. Hàng vạn cặp yêu nhau lên cầu khoá vào đó một chiếc khoá biểu trưng cho sự “vĩnh viễn thuộc về nhau”. Nhưng khoá vẫn chỉ là khoá. Liệu có “khoá” được nhau nếu thiếu lòng tin yêu?

Anh đưa ra một cái nhìn mới: “Ngẫm ra thì hạnh phúc/ Khởi nguồn từ tin yêu/ Giữ lửa lòng ấm mãi/ Đâu cần khoá Trái tim?!” (Ngẫu hứng qua cầu). Đúng vậy! Anh triết lý về mỹ học cái riêng trong nghệ thuật: “Sinh thành con chữ, hồn văn/ Nhưng khác biệt không thể là dị biệt” (Suy tư và hiện hữu).

Cũng rất đúng! Nhưng có triết lý mang tính chân lý lịch sử thì không dành cho riêng ai, bởi nó mang tính phổ quát: “Lịch sử bao phen sống chết/ Ba lần đánh thắng Nguyên Mông/ Ba lần Chiêm Thành uy hiếp/ Thành – bại từ người đứng đầu/ Lòng Dân – trường thành vững chắc!” (Đỉnh cao và vực thẳm).

Như là hệ quả của giọng ân tình, chân tình mà ta thấy có một tiếng thơ đầy sự day dứt, trắc ẩn của một người hay nghĩ ngợi, hay âu lo trong thơ Nguyễn Hồng Vinh. Tâm trạng ấy lan sang, gieo vào người đọc một chút băn khoăn, một chút xốn xang khắc khoải: “Đi dọc miền Trung/ Giữa mùa mưa thiếu nước/ Nắng thiêu đốt/ Cả đồi sim héo cành/ Hồ chứa nước Mỹ Xuyên, Khe Ngang, Hoà Mỹ…

Nước cạn dần xót đau!” (Đau đáu miền Trung). Có lẽ ai cũng quý trọng cái trăn trở của một thái độ có trách nhiệm với cuộc đời này: “Cuối năm bão vẫn về/ Nước triều cường rút chậm/ Bờ sông thêm đoạn sạt/ Ngôi nhà đâu bình yên?!” (Ra giêng).

Nhà thơ day dứt khi đọc thơ một người bạn: “Những câu thơ buốt nhói lòng tôi/ Hồn quê mất dần theo thị trường chao đảo/ Tình người đưa lên bàn cân đong khảo/ Đồng tiền thay đạo lý nhân văn! Thiện - ác, chính - tà” (Giữ đẹp tình người). Những câu như thế như đánh thức, như nhắc ta đối diện với sự thật, mà muốn vậy ta phải sống thật với mình trước…

Một nét thi pháp thơ Hồng Vinh là chan hoà màu sắc, với màu xanh da bưởi, màu đỏ hồng chôm chôm, màu đỏ hoa đào, màu vàng hoa cúc… và nồng nàn hương vị, với hương bưởi, hương cốm, hương lúa, hương rừng, hương mật, và có cả hương… môi. Ngoài nghĩa cụ thể, còn nghĩa tượng trưng, màu xanh hy vọng, màu xanh hoà bình… Hương vị tình yêu, hương vị cuộc đời…

Hương vị và màu sắc ấy góp thêm phần làm xôn xao cái không gian nghệ thuật đáng yêu đầy sinh sắc, vẫn có cả nỗi buồn nhưng tràn trề bao hy vọng: “Những nỗi buồn nhân thế/ Còn hiện hữu đời nay/ Song tình người khắp nẻo/ Đang đầy thêm tháng ngày…” (Hối hả xuân). 

Nguyên Thanh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).