Thương dân dân lập đền thờ

Về với vùng đất Thượng Xá xưa, nay là một phần của huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò, chúng ta không thể không nhắc đến một dòng họ đã sản sinh ra bao nhân tài là rường cột của nước nhà trải qua nhiều thế kỷ. Đó là dòng họ Nguyễn Đình gắn với tên tuổi của Cương Quốc Công Nguyễn Xí (1397-1465). Ngoài khu lăng mộ Nguyễn Xí tọa lạc tại xứ Đồng Lầm, xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc còn có đền Vạn Lộc, thuộc phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò thờ Nguyễn Sư Hồi, người con trai cả của Nguyễn Xí đã có công khai phá và trấn giữ vùng Cửa Xá (nay là Cửa Lò), Nghệ An.

Vị trí, quy mô, kiến trúc của đền Vạn Lộc

Điểm đặc biệt đầu tiên của ngôi đền Vạn Lộc chính là vị trí tọa lạc: Đền Vạn Lộc ngoảnh mặt về phía Bắc, soi bóng dòng sông Cấm và nằm giữa một quần thể núi non sống động "Nhân sơn quần tụ". Núi Bảng Nhãn án ngự trước mặt; bên phải có núi Đầu Rồng (Long Thủ); bên trái có núi Voi (Tượng sơn), tạo nên thế "rồng chầu, voi phục"; sau lưng là núi Lò (Lô Sơn); phía Đông và Nam có đảo Lan Châu và Song Ngư, đảo Mắt như những viên ngọc đẹp nổi lên giữa biển Đông xanh ngát. Chính trên mảnh đất này vào đầu thế kỷ XV, Nguyễn Sư Hồi đã đặt đại bản doanh của lực lượng thủy binh nhằm bảo vệ vùng biển Cửa Xá.

untitled-7.jpg -0
Du khách nô nức trẩy hội đền Vạn Lộc.
Di tích đền Vạn Lộc là công trình kiến trúc cổ được khởi dựng vào thời Lê Trung Hưng. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay di tích vẫn trường tồn cùng với núi Lô, sông Cấm. Đền Vạn Lộc có quy mô lớn với các hạng mục công trình như: hạ điện, trung điện, thượng điện; sát bên cạnh còn 2 tòa bái đường, Hậu cung thờ ba cha con Quận công họ Nguyễn, có bia đá 4 mặt được dựng từ thời Lê Trung Hưng; có bia ghi công của danh y Phạm Đức Dụ; có mộ cá Ông và cây bàng cổ thụ hơn 500 tuổi...

Nguyễn Sư Hồi là con trai trưởng của Cương Quốc Công Nguyễn Xí, lúc nhỏ ông có tên là Nguyễn Đình Khôi (1444 - 1506). Mẹ là Lê Thị Ngọc Lân thuộc dòng Tôn Thất nhà Lê. Nguyễn Sư Hồi được xem là người văn võ song toàn, nhiều lần theo cha đi chinh phạt nhiều nơi lập được công lớn.

Đặc biệt, trong cuộc binh biến năm 1460, Nguyễn Sư Hồi là phụ tá đắc lực cho Nguyễn Xí, chỉ huy đội cấm binh lật đổ thể lực của Lê Nghi Dân, phò tá Gia vương Lê Tư Thành (tức Lê Thánh Tông) lên ngôi trở thành vị minh quân nổi tiếng của nước ta thời Lê Sơ, nên được vua ban cho Quốc tính (mang họ Lê) và phong chức Nhập nội, Thiếu úy, Phò mã Đô úy, Tham dự triều chính về sau gia phong Thái bảo Tổng Đô đốc, Thượng tướng quân Thập nhị hải môn (trấn thủ 12 cửa biển từ Sầm Sơn cho đến Cửa Tùng), tước Quận công. Ông là Đô đốc chỉ huy hạm đội lớn nhất thời vua Lê Thánh Tông.

Với nhãn quan sáng suốt của một nhà quân sự, Nguyễn Sư Hồi đã chọn vùng Cửa Xá để "lập chỉ huy trấn thủ" nhằm chống lại các thế lực thù địch bên ngoài để bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Để đảm bảo có chỗ đứng chân vững chắc, ông đã chiêu tập nhân dân lập nên làng Vạn Lộc, lúc đầu gọi là trại Cây Bàng (vì nơi đây trồng rất nhiều bàng, nếu chúng ta đến vùng đất này vào mấy chục năm trước chúng ta sẽ thấy có rất nhiều cây bàng cổ thụ).

Trong thời gian chỉ huy lực lượng thủy quân ở đây, ông đã huy động quân lính và nhân dân xây kè lấn biển, hiện nay dấu tích đoạn kè đá được ông chỉ đạo xây dựng vẫn còn tồn tại. Từ trại Cây Bàng, sau khi nhân dân về đây định cư đông đúc, ông thành lập ra làng Vạn Lộc với mong muốn "muôn lộc hội tụ về đây".

Sau khi ông mất (năm 1506), để tri ân tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân nơi đây đã lập đền thờ với tên gọi là đền Vạn Lộc. Phúc thần Nguyễn Sư Hồi thường hiển linh giúp dân độ thế nên được các triều đại phong kiến ban cấp sắc phong, phong đến cấp cao nhất là "Thượng đẳng thần".

Nguyễn Sư Hồi mất đi, nhưng tư tưởng và công lao của ông còn sống mãi với quê hương, đất nước. Đúng như lời ca ngợi ông trên đôi câu đối còn lưu giữ ở đền:

Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ;
Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền.

Đền Vạn Lộc thờ những ai?

Ở thượng điện, ngoài thần chủ Nguyễn Sư Hồi ở đây còn bài trí cung thờ tướng Chiêu Trưng Vương Lê Khôi. Lê Khôi tên thụy là Vũ Mục, là công thần khai quốc nhà Lê Sơ ở thế kỷ XV. Ông là con trai của Lê Trừ - anh thứ hai của Lê Lợi, tức cháu gọi Lê Lợi là chú ruột. Lê Khôi là người văn võ toàn tài, ở ngoài chiến tuyến là một võ tướng oai hùng lấy uy lệnh để thu phục kẻ thù, đối với con dân lại vỗ về yêu quý. Chính vì vậy, Lê Khôi được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng. Đền thờ chính của ông ở Cửa Sót, trên núi Long Ngâm ở Thạch Hà, Hà Tĩnh. Nhưng trên địa bàn Nghệ An có rất nhiều nơi thờ Ngài.

Sở dĩ, tại thượng điện đền Vạn Lộc lại bài trí thờ 2 vị thần là Nguyễn Sư Hồi và Lê Khôi là bởi trong tâm thức của người dân Việt, luôn quan niệm "sống sao chết vậy" hay "trần sao âm vậy". Lúc còn sống cả Nguyễn Sư Hồi và Lê Khôi đều được triều đình giao cho cai quản vùng cửa sông, cửa biển ở miền Trung nước ta. Chính vì vậy, sau khi mất, các ông vẫn là người được giao cai quản những vùng này. Nên trong tâm thức của nhân dân, nhất là ngư dân vùng biển, họ đều coi hai vị là những vị thần, có uy quyền đối với các vùng sông nước nơi họ thường ra khơi vào lộng.

Họ thờ các ngài để cầu mong các Ngài luôn phù hộ độ trì cho ngư dân được bình an, may mắn, có thể gặp dữ hóa lành. Họ tin rằng, mỗi khi gặp bất trắc trên biển, chỉ cần cầu nguyện đến uy linh của các ngài thì tai qua nạn khỏi. Trong tâm thức của người dân Vạn Lộc, họ đã xem thần Nguyễn Sư Hồi và Lê Khôi là hai vị thủy thần tiêu biểu trấn giữ vùng cửa sông, cửa biển xứ Nghệ.

Cây bàng cổ thụ và tấm bia đá cổ

Cây bàng cổ thụ trong khuôn viên đền Vạn Lộc có tuổi thọ hàng trăm năm là di sản còn lại để ghi dấu tên gọi xưa của vùng đất này là Trại Bàng. Khoảng vài chục năm trở lại đây, cây bàng cổ thụ này bị rỗng ruột, dưới gốc bị hở 1 lối lớn. Cây cao khoảng 12 m, chu vi gốc cây nơi lớn nhất hơn 4m. Cây bàng này từng bị các trận bão lớn đánh gãy hết nhánh, lâu dần trong thân chính của cây (khoảng 7m) bị mục, rỗng từ dưới lên trên, nhưng kỳ diệu thay, hàng chục năm qua, cây vẫn sống, xanh tươi, mỗi năm còn mọc thêm nhiều cành mới, khẳng định sức sống mãnh liệt mỗi độ xuân về.

Cũng trong khuôn viên đền Vạn Lộc có tấm bia đá cổ hơn 350 năm tuổi 4 mặt khắc chữ nói về thân thế, sự nghiệp của 3 vị Quận công họ Nguyễn. Trải qua thời gian dài chiến tranh, loạn lạc nhưng tấm bia vẫn nguyên vẹn không hề sứt mẻ, điều đó chứng minh sự quan tâm giữ gìn của con cháu hậu duệ đối với các cổ vật mà cha ông đã để lại.

Về lễ hội đền Vạn Lộc

Mỗi độ tết đến xuân về, thường 3 năm một lần, nhân dân vùng sông nước Cửa Lò lại tổ chức lễ hội đền Vạn Lộc để tưởng nhớ công ơn Thái uý Quận công Nguyễn Sư Hồi cùng các vị thần được thờ trong đền và cầu mong sóng yên, biển lặng, mùa màng bội thu.

Lễ hội bắt đầu từ chiều ngày 11 và kết thúc vào tối ngày 16 tháng giêng âm lịch, bao gồm 2 phần: là phần lễ tâm linh và phần hội:

Lễ hội đền Vạn Lộc là một trong những hội lớn có nhiều nghi lễ đặc sắc được nhân dân thực hành từ xưa đến nay, trong đó có tục rước đức thánh vi hành thị sát và ban phát tài lộc cho dân làng. Để tổ chức đoàn rước, tất cả nhân dân trong làng và du khách thập phương đều tập trung về đền, tất cả các dòng họ lớn trong vùng đều thiết lập kiệu rước thần tổ của dòng họ mình để rước phù thánh giá linh thần đi vi hành, đoàn rước kéo dài khoảng 2km - 3km.

Trên cung đường rước thánh vi hành trước cổng của mỗi gia đình đều thiết lập bàn thờ với đầy đủ lễ vật để nghênh đón và bái tạ các thần với mục đích nhằm cầu xin sự ban phát tài lộc của thần cho gia chủ, nhiều dòng họ cũng thiết lập các ban thờ rất uy nghi trang trọng có tộc trưởng đứng thắp hương nghênh đón. Đây là tập tục được nhân dân nơi đây trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nhằm thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "nhân sinh do tổ".

Làng Vạn Lộc xưa, Nghi Tân ngày nay từ một vùng đất bãi hoang vắng của trại Cây Bàng được nhiều thế hệ người dân với công sức, trí tuệ, mồ hôi, máu và nước mắt đã kế tiếp nhau khai hoang, lấn biển, không ngừng bồi trúc, mở mang kinh tế để xây dựng nên một vùng đất văn hiến trọn vẹn "Văn dành đỉnh bút, võ chiếm đề đao, nền y học chưa nơi nào sánh kịp".

Trong công cuộc đổi mới ngày nay, con người trên mảnh đất văn hiến đó vẫn phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp của tổ tiên xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, đưa Nghi Tân trở thành một phường sầm uất của thị xã Cửa Lò, mang dáng dấp của một đô thị soi bóng xuống dòng sông Cấm thơ mộng. Đền thờ Nguyễn Sư Hồi còn là một thắng cảnh đẹp để cuốn hút khách du lịch thập phương đến thăm và đến với bãi biển Cửa Lò ngày càng đông hơn, vui hơn, góp phần phát triển du lịch Cửa Lò. 

Khắc Giang

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).