Thời hoa đỏ - Niềm khát khao luyến tiếc và những mối tình dang dở

Một trưa hè nắng cháy bỏng rát như muốn thiêu rụi đi tất cả, từng cơn gió Lào cũng vậy, dường như nó muốn trêu ngươi mọi tâm hồn vốn đã khô nẻ, bạc phếch nơi ấy; và tôi, xoãi người bên bức tường ẩm có cây ổi cao hơn tôi phủ bóng, tay cầm cuốn sách toán học cũ kĩ, nhầu nhầu mà tôi vừa mượn được, bỗng từ loa phát thanh của hội quán xóm tôi vang lên tiếng hát của một cô ca sĩ nào đó. Giai điệu của bài hát ấy đã thu hút tôi - một đứa trẻ con vừa học xong lớp 6: “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao/ Bước lặng im trên đường vắng năm nao ...”.

Và giai điệu ấy, sự mượt mà ấy đã đi theo tôi suốt hơn mười bảy năm nay.

Không thiếu những lần tôi tìm cách ghi lại lời của bài hát. Hơn ba lần tôi cố thể hiện bài hát ấy trước mọi người, và vô số lần tôi không đếm được tôi độc diễn. Và tôi, không thể nào hiểu được vì sao đứa trẻ con trong tôi ngày ấy lại say mê với giai điệu trầm buồn mà muôn vàn tiếc nuối ấy. Cho đến giờ, câu hỏi ấy vẫn không có lời giải đáp.

image001.jpg -0
Nhà thơ Thanh Tùng (1935 -2017), tác giả bài thơ "Thời hoa đỏ".

Bây giờ, là người phụ nữ đã trưởng thành và có gia đình thì dường như, “Thời hoa đỏ” càng rõ nét, càng thấm đậm hơn trong tâm hồn, vốn đã rất mênh mông của tôi.

Tác giả bài thơ “Thời hoa đỏ” là nhà thơ Thanh Tùng. Ông viết bài thơ vào khoảng năm 1972 - khi cuộc hôn nhân của ông và người vợ yêu quý vừa đổ vỡ. Đến 1989, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng đã phổ nhạc cho bài thơ. Và hình như, lời thơ ấy như được tiếp thêm sức mạnh, nó đã bay cao, bay xa, chạm tới những tâm hồn nhạc sống động những mảnh đời, những mảnh tình da diết: “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao/ Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng/ Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh/ Chẳng chịu cho lòng ta yên”.

Bốn câu thơ đầu, hình ảnh của một bầu trời rực lửa với màu hoa, một màu lửa cháy như làm nền cho cái sự khát khao đang dồn nén trong lòng người trai ấy. Tưởng như hạnh phúc đang đến bên họ: “Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng”. Con đường vắng với cái nắm tay nhẹ nhàng nghe sao xao xuyến: chỉ có hai người thôi. Nhưng không đâu, “tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh” cũng đồng nghĩa với niềm yêu thương cũng chẳng để ta yên. Nỗi niềm khát khao cũng chẳng để ta yên: “Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ/ Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa”.

“Màu mây xa” - một hình ảnh vừa thực vừa mơ. Cái thực hình như ở phía kia, trước mắt người trai ấy là màu mây trắng nhưng lại cũng như mơ như ảo trong kí ức xa xăm trở về. Một kí ức “về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ”, một kí ức đầy “vẻ thần kỳ của ngày xưa”. Dường như, người trai đang bồng bềnh ngoái nhìn về quá khứ. Và em: “Em hát một câu thơ cũ/ Cái say mê một thời thiếu nữ”.

Em cất lên tiếng hát cho một câu thơ cũ, câu thơ cũ đấy nhưng nó hiện về cái thời thiếu nữ em mê say, khao khát với đời, với cuộc sống, với tình yêu. Cái thời thiếu nữ ấy, rực cháy đam mê như màu hoa đỏ phượng vĩ đến mùa hè cháy bỏng: “Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ/ Hoa như mưa rơi rơi/ Như tháng ngày xưa ta dại khờ”.

Ôi chao! Mỗi mùa hoa đỏ về, là mỗi mùa hè đến, là mỗi mùa phượng vĩ tan tác đỏ cái màu ấy, cái màu đỏ tươi như màu máu chảy trong thân thể người trai ấy, màu đỏ của niềm yêu thương tha thiết, mê đắm, màu đỏ của cuồng si của những năm tháng dại khờ. Những năm tháng của tuổi trẻ yêu đương: “Hoa như mưa rơi rơi, hoa như mưa rơi rơi...”.

Một dải lụa đỏ phủ quanh đôi lứa ấy, để rồi họ nhìn nhau, nhìn nhau trong cái khổ đau, chua xót: “Ta nhìn sâu vào mắt nhau/ Mà thấy lòng đau xót/ Trong câu thơ của em/ Anh không có mặt/ Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết/ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”.

image003.jpg -0
“Cái lặng im rực màu hoa đỏ”.

Trong câu thơ của em, anh không có mặt” - sự xót xa của người trai dường như trở nên thẳm sâu hơn bởi câu thơ ấy viết về cái thời yêu đương tha thiết, viết về mối tình của người nữ đang bên anh nhưng lại đắm chìm về quá khứ, về nỗi yêu đương của tuổi trẻ, của người đã từng đi qua trái tim của nàng - người đó không phải là anh. Người trai ấy, đã yêu, mê đắm hiến dâng, nhưng, trái tim của nàng, vẫn trọn vẹn dành cho quá khứ. Có lẽ, nỗi dằn vặt, nỗi nhớ nhung, nỗi khát khao yêu này càng trở nên tang thương hơn gấp bội.

Nhưng, cao thượng biết bao, rộng lượng biết bao khi anh nói: “Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”. Không có bất cứ một sự dằn vặt, ghen tuông nào nơi anh. Anh đã đặt lòng mình vào người nữ ấy, tiếc rằng, cuộc tình em dang dở, không đi đến hết những ngày đắm say của yêu đương. Thật là nhân văn. Cái nhìn đầy nhân văn của một người trai dành cho tình yêu của mình. Tưởng như anh đang lắc đầu, thở dài trong nỗi tiếc thương thay cho em - người phụ nữ anh đã yêu đến thế. Ta chợt nhớ đến câu thơ nổi tiếng của “Mặt trời của thi ca Nga” Puskin: “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”. Có lẽ, chạm đến đỉnh cao của tình yêu chính là sự hy sinh và độ lượng của những người trai tràn lòng yêu như vậy.

Lời buông lời như thủ thỉ, như nhắn nhủ với người con gái anh yêu: “Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ/ Không cho ai có thể lạnh tanh/ Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ/ Như vết xước của trái tim”.

Hoa cứ rơi, bây giờ và ngày xưa. Cũng như cái sự hoa đã làm cho lòng chúng ta không thể lạnh, nghĩa là ta không thể không rung động, như tuổi trẻ chúng ta đã yêu, đã say đắm vậy. Và vô tình hoa đã để trong trái tim chúng ta một vết xước. Một vết xước không bao giờ mất đi - vết xước của tình yêu tuổi trẻ. Sự đổ lỗi rất dễ thương cho hoa của tác giả, chỉ đơn giản là để an ủi người con gái ấy mà thôi: “Sau bài hát rồi em lặng im/ Cái lặng im rực màu hoa đỏ/ Anh biết mình vô nghĩa đi bên em”.

Tiếng hát em ngừng. Mọi thứ dường thinh lặng. Chỉ là cái thinh lặng bên ngoài mà thôi. Bởi hồn em “rực màu hoa đỏ”, cảm xúc dâng tràn với biết bao kỷ niệm đẹp đẽ của quá khứ chợt sống lại trong em; những niềm yêu thương tha thiết, những đam mê say đắm, những nhớ nhung, khao khát... Mọi thứ ùa về và em đắm chìm nơi ấy... Và anh, anh biết mình vô nghĩa đi bên em. Thật trớ trêu cho một chữ Tình. Trái tim lặng, hẳn là người trai ấy? Bởi có nỗi đau nào hơn nỗi yêu vô vọng? Dù trái tim anh trọn đời dâng hiến - chỉ riêng em thôi - nhưng - anh vẫn chỉ là vô nghĩa với em. Nỗi đau tự rên xiết buốt lạnh trong tình yêu anh: “Sau bài hát rồi em như thể/ Em của thời hoa đỏ ngày xưa/ Sau bài hát rồi anh cũng thế/ Anh của thời trai trẻ ngày xưa”.

Sau bài hát, anh đã thấy em, chính là người con gái của cái thời hoa đỏ ngày xưa ấy. Không phải của bây giờ - không phải của anh.

Anh nói với nàng, nhưng là anh độc thoại. Chút an ủi mong manh “sau bài hát rồi anh cũng thế, anh của thời trai trẻ ngày xưa”. Và anh cũng muốn, anh là của thời trai trẻ đã qua. Với niềm yêu, niềm thương dạt dào, với những giấc mơ tuổi trẻ.

Kết thúc bài thơ dù nhẹ nhàng, an ủi, nhưng dường như thấm đẫm nỗi bi thương của một cuộc tình dang dở. Sự luyến tiếc, xót xa của tình yêu đã đi qua và “vết xước”, dư âm ngọt ngào còn đọng lại. Đủ cho ta thấy, sự tinh tế, bao dung của tác giả lớn biết nhường nào? Hay rộng hơn, những tấm lòng trai trẻ ấy - niềm khát khao yêu mãnh liệt ấy - đã mãi mãi tồn tại vượt thời gian, không gian - cho những nốt nhạc tràn đầy yêu thương thi vị của tuổi trẻ sống mãi trong mỗi chúng ta.

Có ai trong chúng ta chưa một lần rung động cái thời trai trẻ đầy khát khao ấy? Và có ai trong chúng ta cái thời thiếu nữ ấy, chưa một lần thẹn thùng khi ánh mắt ai đấy vô tình đi qua ta?

Xin gửi tới nhà thơ Thanh Tùng lời cảm ơn chân tình và ấm áp. Bởi nhà thơ đã rút hết xúc cảm và tình yêu để cho đời một tác phẩm; và hơn nữa, nhà thơ đã thay lời biết bao chàng trai cô gái để trở về với những kỉ niệm, những cuộc tình không có trái thơm.

Và dù có ở đâu, tháng năm nào đi nữa thì hoa vẫn cứ nở, hoa vẫn cứ rơi ...

Hoa như mưa rơi rơi, hoa như mưa rơi rơi...”.

Huyền Thanh Thanh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).