Thơ Nguyễn Thúy Quỳnh: Nỗi bất an về cõi nhân sinh

Tôi đọc khá kỹ thơ Nguyễn Thúy Quỳnh và nhận ra chị đã vượt qua phẩm chất trữ tình lãng mạn trước đây để xác lập cho mình một giọng điệu mới, hướng chất thơ trữ tình công dân vào hiện thực xã hội để thức tỉnh lòng người trước những diễn biến thăng trầm của đời sống và con người hôm nay.

Tôi còn nhớ mãi lần cùng các nhà văn: Chu Văn Sơn, Văn Giá, Hoàng Xuân Tuyền… lên Thái Nguyên dự lễ ra mắt tập thơ mới của nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh. Một ngày vui rất đặc biệt với các bạn thơ Thái Nguyên.

Hôm đó, Chu Văn Sơn vui lắm, anh dẫn chương trình thơ rất dí dỏm và hồn nhiên. Nhưng cũng không ai ngờ được sau đó một thời gian, nhà phê bình văn học tài hoa Chu Văn Sơn đã giã biệt cõi đời này mà bài viết rất tâm đắc của anh về tập thơ này gần như là bài viết cuối cùng.

Tôi đọc khá kỹ thơ Nguyễn Thúy Quỳnh và nhận ra chị đã vượt qua phẩm chất trữ tình lãng mạn trước đây để xác lập cho mình một giọng điệu mới, hướng chất thơ trữ tình công dân vào hiện thực xã hội để thức tỉnh lòng người trước những diễn biến thăng trầm của đời sống và con người hôm nay.

Từ trữ tình lãng mạn đến trữ tình công dân

Nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn rất có lý khi viết về thơ Nguyễn Thúy Quỳnh như sau: “Niềm thơ tạo sinh trong người thơ một chủ thể thi ca thực sự. Chủ thể ấy chứng tỏ mình bằng một cảm quan riêng về cõi nhân sinh này.

Ở Nguyễn Thuý Quỳnh cũng thế. Vạn vật hiện ra trước hết không là những vật thể, sinh thể. Mà là những thân phận, những sinh linh với sinh mệnh thật mong manh. Không gian hiện ra là chốn tồn tại đầy bất ổn. Còn thời gian là những khoảnh khắc tồn sinh đầy bất trắc. Một nhãn giới đẫm lo âu về cõi thế phù sinh.

Thơ Nguyễn Thúy Quỳnh: Nỗi bất an về cõi nhân sinh -0
Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh.

Vậy nên, Nguyễn Thuý Quỳnh thường bận lòng về những sự ra đi, nhất là cái chết. Không chỉ đội lính trẻ chết rơi, nạn nhân động đất chết vùi, đồng bào bão lũ chết ngập, thuyền nhân di tản chết trôi, đứa bé mồ côi chết đói. Không chỉ con mèo non chết nát, đàn cá sông chết ngạt, cụ rùa đơn thân chết tủi, đám thiêu thân chết chen chết rụi. Mà cả những dòng sông chết sặc, cánh rừng chết cháy, hàng cây chết chém, lũ chim trong trứng chết lưu...

Không chỉ ra đi bởi sinh tử, mà cả những ra đi chỉ đơn giản là từ giã cái guồng quay công việc một đời người. Không chỉ những ra đi nhỡn tiền của người, mà cả sự ra đi một ngày nào đó của chính mình…

Trong thơ chị, sự ra đi nào cũng nợ nần, cái chết nào cũng tức tưởi, sinh linh nào cũng ngậm một hàm oan. "Đêm đêm/ Hồn cây về/ sừng sững trên những gốc cũ/ Triệu mắt lá chan chan lệ ứa/ Khóc những quả trứng chim còn chưa kịp nở/ Ta biết lấy gì xin tha thứ, cây ơi!". Với lòng thơ đã từng nếm trải nỗi buốt giá trước chia lìa sinh tử, thì hết thảy mọi sinh linh kia không một ai cam lòng chết, không một ai đáng phải ra đi”.

Theo tôi, dường như nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh luôn mang trong mình một tiếng nói nghệ thuật không thỏa hiệp, thể hiện trách nhiệm xã hội của người làm thơ trước những sự kiện gây chấn động xã hội và lương tri.

Nguyễn Thúy Quỳnh đã dùng thơ như một ngọn đuốc - soi vào nơi tăm tối nhất, để đòi hỏi ánh sáng cho sự thật “Cho dù sự thật có mùi gì” với những câu thơ như một chất vấn: “Sự Thật/ Sự Thật/có thể trồi lên từ đáy biển sâu/ trào ra giữa dòng hải lưu nóng bỏng/ rơi xuống từ những khoang thuyền/ chất kịch độc xếp cùng thuyết âm mưu nào đó/ Sự Thật/ cũng có thể được cất trong một ngăn bàn/ sau cú bắt tay ngoạn mục/có thể chạy ngoằn ngoèo trong những đường ống bí mật/ của những não bộ tối mù/ rồi về đâu thì không ai biết/ Cho dù những xác cá thối rữa rồi sẽ biến mất /cho dù Sự Thật có mùi gì/ thơm tho như hoa hay thối rữa như cá/ chúng không được quyền biến mất/ chúng cần được hiện ra/ nguyên vẹn/ dưới mặt trời/ Đấy là điều duy nhất không thể nào khoan nhượng/ của biển, tôm cá và chúng tôi”.

Trong bài thơ trên, qua hình tượng biển chết, xác cá, và sự lặng im đầy toan tính, nhà thơ không chỉ lên án cái chết sinh học mà còn là cái chết đạo đức, cái chết của sự thật bị vùi lấp. Trong bài thơ này, tác giả đã tạo nên sự đối lập dữ dội giữa cái chết lặng lẽ của thiên nhiên và sự bùng nổ bên trong con người. "triệu mắt cá rữa nát còn xoáy vào trời xanh/ câu hỏi: vì đâu chúng tôi chết?", một hình ảnh siêu thực và đầy tính biểu tượng khi những "mắt cá rữa nát" vẫn nhìn lên trời, như những linh hồn oan khuất đang tra vấn với câu hỏi vang lên đầy nhức nhối.

Giọng thơ chính luận kết hợp với chất trữ tình

Nhiều bài thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh có giọng thơ chính luận kết hợp với chất trữ tình hiện thực sắc lạnh. Ngôn ngữ thơ mang tính chiến đấu, không né tránh, mạnh mẽ, gợi hình, giàu ẩn dụ. Tư tưởng của các bài thơ là một lời kêu gọi dũng cảm, thức tỉnh và bảo vệ lẽ phải không phải bằng niềm tin mù quáng, mà bằng hành động, bằng đạo lý.

Đây là những thi phẩm mang hơi thở thời sự hiện đại, sắc lạnh và tràn đầy sự tỉnh thức. Tứ thơ trong các bài thơ kiểu này được kiến tạo bằng một chuỗi hình ảnh dữ dội, nghịch lý, mang tính báo động và triết lý sâu xa về thực trạng xã hội - nơi thời gian không còn trôi nhẹ nhàng, mà trôi qua như từng “tích tắc tử thần” trong đoạn thơ dưới đây: “Cơn sóng thần nào không từ đáy biển/ đang tràn qua mỗi tích tắc quanh tôi/ Đâu phải chiến tranh/ mà mấy chục cuộc đời nát vụn một ngày mìn nổ đá rơi,/ phút chốc chạm đường ray, đồng làng bời bời khăn trắng/ Một chữ ký nhẹ tênh/ kéo trập trùng sông suối núi đồi chui vào két nhỏ/ ...May còn cánh rừng mấy nghìn tuổi/ vọng tiếng khóc trẻ thơ/ kết thành chiếc phao/ cho tôi vịn/ trôi qua những tích tắc tử thần”.

%3fnh bu%3fi ra m%3ft tho t%3fi thái nguyên, t%3f trai qua ph%3fi, các nhà van nhà tho chu van son, nguy%3fn thúy qu%3fnh, nguy%3fn vi%3ft chi%3fn.jpg -0
Từ trái qua, các nhà văn: Chu Văn Sơn, Nguyễn Thúy Quỳnh và Nguyễn Việt Chiến. 

Tứ thơ ở đây là tứ của sự bất lực và im lặng bị cưỡng ép và những câu hỏi chưa từng được trả lời, hay không còn ai dám hỏi nữa. Cảm giác ấy càng khắc sâu ở hình ảnh “những cái đầu siêu mỏng” biểu tượng cho sự dị dạng của tư duy xã hội. Nhiều bài thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh được tác giả lập tứ thơ theo kiểu phát triển thành tư duy phản biện mạnh mẽ.

Có thể coi bài thơ “Về một sinh linh vừa rời bỏ trần gian” là một khúc ai điếu hiện đại cho những sinh linh nhỏ bé bị bỏ rơi trong cuộc sống, từ đó hé lộ những vết thương xã hội sâu hoắm. Tứ thơ được xây dựng theo kiểu xoáy trôn ốc cảm xúc, từ bức bối, phản kháng đến buông bỏ, đã làm nên một tiếng nói nhân văn và thức tỉnh:

Sống như thế đủ rồi/ Thêm tuổi có thêm được gì mới/ Vài trăm năm lặn ngụp một ao tù/ Đã nhàm chán đến từng viên sỏi/ Đã phát ngấy mặt hồ lặng câm/ Đã nghìn lần ngẩng mặt nhìn trời xanh/ Biết vạn năm cũng chỉ là bóng mây trôi đáy nước/ Mang vác thế đủ rồi/ Những sứ mệnh giời ơi trên tấm lưng lở loét/ Thực ra là tạo vinh quang cho kẻ khác/ Cõi nhân gian kia vì đâu cứ nhất quyết phải dựng lên tượng đài/ Hóa thần thánh cả thứ vô tri giác/ Cô độc thế đủ rồi/ Nửa đời thui thủi một mình dưới đặc quánh xanh đen/ Trời lồng lộng bốn cõi/ Đất chật ních muôn loài/ Nào ai thấu nỗi niềm kẻ không có nổi một sinh linh đồng loại/ Giờ là lúc được trở về với thế giới của mình/ Với cha mẹ, anh em, họ hàng ở chân trời đâu đó/ Trút lại những gì ai đó đã khoác lên một hình hài cồng kềnh và buồn tủi/ Đừng than khóc rùm beng rồi làm khổ nhau/ Nếu có lòng hãy thương lấy những sinh linh cô độc đang bơ vơ trên mặt đất này/ Ấy là lời cuối cùng của kẻ vừa thác”.

Dưới vẻ ngoài của lời trăn trối một sinh linh vừa lìa đời, bài thơ chất chứa một nỗi buồn xã hội rộng lớn và một tứ thơ sắc sảo, nghẹn ngào mà tỉnh táo. Bài thơ không chỉ nói về cái chết của một cá nhân mà sâu xa hơn, là biểu tượng cho những phận người nhỏ bé, đơn độc và không được thấu hiểu trong một xã hội đầy những giả dối, áp đặt và vô cảm.

Với sự đồng cảm rất tri kỷ, Chu Văn Sơn đã phát hiện cho người đọc thấy được: “Mỗi tiếng thơ Nguyễn Thúy Quỳnh là một nỗi bất an, một cuộc dằn vặt đối với nhân tâm. Trước hết, là tâm mình. Với chị, mỗi cái chết đó đều trân trối một cái nhìn như khoan xoáy vào gan ruột. Chúng dội vào lòng thơ những dư chấn không dứt. Chúng khiến chủ thể thấm thía tận da thịt bao bất ổn của một thực tại bát nháo, cùng những mong manh của kiếp sống trong cõi thế vô thường. Chúng tra vấn thói vô cảm. Chúng chì chiết sự vô can. Chúng khiến mỗi chúng ta đều thấy mình là một kẻ bạc tâm.

Ai cũng có lỗi với mỗi cái chết ấy, có can dự vào cái bát nháo này, cái vô thường hằng diễn kia. Và, ta không khỏi hoang mang: chỉ có một lòng hiếu sinh đầy đặn mới cưu mang được sự sống này, vậy mà, dường như, trong ta, ngay cả tính trách nhiệm lẫn sự thiện lương thông thường, xem chừng, cũng đã bạc màu hết cả! Chúng ta đang là gì? Chúng ta đang là ai? Trước những sự ra đi buốt lòng đó, “nói điều chi cũng thành bất nhẫn", nên thơ không ca thán nỉ non, thơ chỉ lẳng lặng ưu tư, mà khiến đời không nguôi day dứt”.

Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh, SN 1968, quê Nam Định (nay là Ninh Bình), sống và làm việc tại Thái Nguyên, làm báo, viết văn, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội VHNT Thái Nguyên. Tác phẩm chính đã xuất bản: "Giá mà em từ chối" (thơ 2002); "Mưa mùa đông" (thơ 2004); "Những tích tắc quanh tôi" (thơ 2012); "Hai phía phù sinh" (thơ 2018). Đã được trao nhiều giải thưởng văn học của Báo Tiền phong; Tạp chí Văn nghệ Quân đội; Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).