Thi ca Bắc miền Trung – Nhìn từ cái hay, cái mới

Đỗ Lai Thuý đưa ra ba hệ hình tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại của thơ Việt Nam: "nghĩa -> chữ, chữ -> nghĩa, chữ <-> nghĩa". Ông cho rằng, ba hệ hình này luôn luôn gối tiếp nhau, trong đó, hệ hình tiền hiện đại đóng vai trò trung tâm, ảnh hưởng, chi phối đến hai hệ hình còn lại. Trong sáng tác của một tác giả, có thể tồn tại một hoặc nhiều hệ hình và có thể không lệ thuộc vào hệ hình mà tác giả đó đang sống.

Nhiều cây bút có khi vừa đại diện tiêu biểu cho giai đoạn này vừa khẳng định ở giai đoạn khác. Khuynh hướng sáng tác của các cây bút đa dạng, phong phú và có cả sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Vì thế, không riêng gì cả nước, mà ngay trong sáng tác của các cây bút Bắc miền Trung, luôn có sự đi về giữa truyền thống và hiện đại, giữa cũ và mới. Vậy, trong sự gối nhau giữa truyền thống và hiện đại, cũ và mới, cái hay, cái mới của thi ca đương đại Bắc miền Trung được biểu hiện như thế nào?

Bàn về cái hay, cái mới

Thi sĩ là người luôn khao khát khám phá và mô tả cái tôi, biến nỗi niềm riêng tư của chính mình thành nguồn cảm hứng sáng tạo. Khi nỗi niềm ấy chuyển hoá vào thơ, nó không còn là khoái cảm riêng của thi sĩ nữa mà đã trở thành khoái cảm chung của toàn nhân loại. 

Nhưng để thơ lan toả sức hấp dụ, trở thành nguồn khoái cảm của nhân loại, thi sĩ phải là người biết tìm ra lối viết riêng. Nỗ lực kiếm tìm lối viết riêng chính là nỗ lực kiếm tìm cái mới. 

Ở góc độ này, cái mới liên quan đến sự tồn tại và khả năng diễn giải, điều tiết của cái tôi. Ý thức khước từ, đả phá cái cũ đã có trong bản thân mỗi thi sĩ chứ không phải chắp nhặt từ bên ngoài. Cái mới là cái nảy sinh từ bên trong cái tôi bản thể của mỗi thi sĩ, cho nên, cách thức tạo cái mới cũng không ai giống ai.

Hội thảo văn học nghệ thuật Bắc miền Trung.
Hội thảo văn học nghệ thuật Bắc miền Trung.

Như thế, cái mới thể hiện ở sự viết và những ý tưởng mà thi sĩ chuyển tải trong đó. Cái mới đạt đến cái hay thì nó phải tạo được ấn tượng, hứng thú với độc giả. Cái hay lại đòi hỏi hay cả về nội dung lẫn hình thức. 

Giữa cái mới và cái hay, cái nào là ngọn, cái nào là gốc? Cái hay có phải chắc chắn là cái mới không? Có cái hay không mới, thậm chí cũ thì sao? Không những thế, đánh giá cái hay, cái mới còn tuỳ thuộc vào thị hiếu của từng giai đoạn. Có thể giai đoạn này là hay là mới, nhưng ở giai đoạn sau, cái hay, cái mới ấy lại không còn hay, không còn mới nữa.

Khó có thể rạch ròi tiêu chí giữa cái hay và cái mới. Bởi thơ ca hiện đại là dòng chảy của tiềm thức, vô thức. Dòng chảy mơ hồ, huyền ảo của cái bí ẩn bên trong, dòng chảy kì dị của giấc mơ,… Phải chăng vì thế mà thơ hiện đại khó nắm bắt, khó giải mã, khó đo lường, khó phân định? Phải chăng vì thế mà cõi thơ hiện đại là cõi thơ bất khả giải? Mà liệu có phải những gì bất khả giải đều không hay, tắc tị? Thực tế, có những bài thơ, đọc không hiểu, nhưng khó cưỡng lại sự quyến rũ và hấp dụ của nó.

Nhìn từ sự riêng khác

Tính 6 tỉnh Bắc miền Trung, từ Thanh Hoá vào đến Huế, chúng ta có một đội ngũ thơ ca hùng hậu, tài năng, sức sáng tạo dồi dào không thua kém gì hai đầu cầu, Hà Nội và Sài Gòn. Có thể điểm danh một số gương mặt như: Nguyễn Khoa Điềm, Thạch Quỳ, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Khắc Thạch, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Minh Khiêm, Lâm Bằng, Văn Đắc, Võ Quê, Văn Lợi, Lý Hoài Xuân, Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà, Trần Thu Hà, Thái Hải, Nguyễn Thị Phước, Vân Anh, Nguyễn Văn Hùng, Huy Trụ, Đinh Ngọc Diệp, Võ Văn Hoa, Võ Văn Luyến, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Nguyễn Thiền Nghi, Đỗ Thành Đồng, Phan Văn Chương, Trần Thị Huê, Đông Hà, Châu Thu Hà, Nhuỵ Nguyên, Phạm Nguyên Tường, Lê Vĩnh Thái, Nguyễn Lãm Thắng, Fan Tuấn Anh, Lê Tấn Quỳnh, Lưu Ly, Thy Lan, Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Hạnh Loan, Phạm Thùy Vinh, Nguyễn Thị Minh Thúy, Phạm Tiến Triều, Phong Lan, Lê Đáng,…

Thơ Bắc miền Trung đều nằm trên ba hệ hình: tiền hiện đại - hiện đại - hậu hiện đại. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, thơ Bắc miền Trung đa phần thuộc về hai hệ hình, tiền hiện đại và hiện đại. 

Nhiều sáng tác của các tác giả có sự giao thoa, ràng rịt giữa hai hệ hình này như Nguyễn Minh Khiêm, Đỗ Thành Đồng, Đông Hà, Nhụy Nguyên, Lê Vĩnh Thái, Phan Văn Chương, Trần Thị Huê,... Sáng tác của Hoàng Vũ Thuật, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Phạm Nguyên Tường, Lê Vĩnh Thái, Nguyễn Lãm Thắng, Fan Tuấn Anh, Lê Tấn Quỳnh,... thì nghiêng hẳn về hệ hình hiện đại. Về hệ hình hậu hiện đại, chỉ rải rác ở một số sáng tác của các cây bút trẻ, hoặc cả một tập thơ như tập "Tơ sương" của Hồ Thế Hà.

So sánh thơ Bắc miền Trung với thơ cả nước, ngoài một số cây bút đã khẳng định phong cách, tên tuổi, nhiều cây bút trẻ đang không ngừng nỗ lực bứt phá, thể nghiệm đổi mới thơ. Thơ Lê Vĩnh Thái "kiệm ngữ/ đa nghĩa" và giàu hình ảnh. Thơ Fan Tuấn Anh rậm rịt lời nhưng triết lý sắc bén. Thơ Nhụy Nguyên thấm đẫm tinh thần và triết lý nhà Phật.

Bắc miền Trung không có kiểu thơ "rặt" phong vị vỉa hè, đường phố năng động, tự do, phóng khoáng, ''nổi loạn'' như Sài Gòn, hay thiên về trầm lắng, suy tư, tĩnh lặng như Hà Nội, nhưng Bắc miền Trung đã khảm vào thơ cái nôi của vùng đất địa linh nhân kiệt, đậm vùng miền mưa nắng khắc nghiệt, bão bùng lên trên nền thơ của cả nước, góp phần làm nên bản sắc, chất riêng trong dòng chảy thơ ca đương đại. Tiêu chí này cũng có thể xem là những nỗ lực tiến về vùng trung tâm và xoá bỏ những "thiên kiến vùng miền" của thi ca Bắc miền Trung.

Thực ra, so sánh và chỉ ra sự khác biệt trong sáng tác thi ca giữa các vùng miền chỉ mang tính chất tương đối. Đó là chưa tính sự ảnh hưởng, quen mà lạ của một số cây bút di cư, chuyển dời không gian sáng tác. Nhưng có một điều chúng ta không thể phủ nhận, không gian địa lý luôn ảnh hưởng sâu đậm đến không gian tinh thần của thi sĩ. Và tất nhiên, chỉ khi ý thức tự tôn về bản sắc vùng miền, xem vùng miền như là dòng máu đang chảy trong mình thì thi sĩ mới tạo được căn cước riêng khác.

Bắt nhịp thi ca đương đại

Đọc Hoàng Vũ Thuật, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Nguyễn Lãm Thắng, Phạm Nguyên Tường, Đỗ Thành Đồng, Nguyễn Anh Tuấn, Trần Thị Huê, Fan Tuấn Anh, Lê Vĩnh Thái,… giá trị thơ của họ nằm ở đâu? Chúng ta xét cái hay cái mới thơ họ dựa vào tiêu chí nào?

Với tôi, cái hay, cái mới thực chất như hai mặt của một tờ giấy, đều được kiến tạo từ chính thế giới tâm hồn, sự thận trọng về mặt ngôn từ của thi sĩ, và kể cả những tác động từ phía độc giả. Chính những cuộc trình diễn tâm hồn trong sự đa chiều cạnh của không thời gian, trong lớp sương mù dày đặc của cõi vô thức đã đưa đến những khởi sắc, những ám tượng về mặt ngôn từ, gia tăng chất thơ. 

Và nhất là, miền đớn đau, mất mát, cô độc mà thi sĩ quăng/đẩy vào thơ bao giờ cũng làm dày/đầy giá trị cứu chuộc và tái sinh. Trong tận cùng cô đơn, tuyệt vọng, thi sĩ mới thực sự vật lộn kịch liệt với cái tôi để truy tìm bản thể. Và cũng chỉ có con đường này, nhà thơ mới đối diện trọn vẹn nhất cái tôi của chính mình, không bị trộn lẫn giữa nghìn trùng cá thể, mới phát tiết cái riêng, cái lạ, cái độc.

Chúng ta có một Hoàng Vũ Thuật thường lạ hoá sự tưởng tượng của mình bằng nhiều đường gấp uyên ảo; một Hồ Đăng Thanh Ngọc đã tạo phong cách ở thơ tân hình thức, luôn nhịp nhàng hôn phối truyền thống trong cái nhìn cách tân bằng nhiều trò chơi ngữ ngôn đầy lý thú; một Nguyễn Lãm Thắng sẵn sàng rạch họng đêm để truy tìm bản thể chính mình và các mảnh ghép của cuộc sống; một Phan Văn Chương dùng tín ngưỡng, sắc màu của huyền thoại tái tạo bức tranh thuần khiết, giàu vẻ đẹp nữ tính, phồn thực; một Nguyễn Anh Tuấn không phải là người độc quyền thủ pháp "phúng dụ" nhưng anh biết dùng nó tạo dấu ấn riêng mình, phát huy tính kép, tính đa bội, tính bất ổn của các mã ngôn ngữ; một Lê Vĩnh Thái, cả tâm hồn lẫn con chữ đều đau đáu với tình yêu nguồn cội, cuộc sống, và các thi liệu ấy luôn được anh soi chiếu bằng điểm nhìn mới mẻ, tân thời.

Chúng ta cần thấy rằng, hiện thực cuộc sống là khởi nguồn của thi ca. Hay nói cách khác, thơ ca phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhưng hiện thực khi đi qua trái tim của thi sĩ, hiện thực ấy đã bị quy chiếu, ảnh hưởng bởi những rung chấn phức tạp, bí ẩn của anh ta. Lúc này, nhà thơ không chỉ là người làm sống động hiện thực ấy mà còn phủ lên hiện thực ấy những mảng khối, sắc màu đa dạng, biến ảo. 

Do đó, để cảm được cái hay cái mới của thơ hiện đại, chúng ta cần tạo sự đồng cảm, cần thẩm thấu nó bằng linh cảm của trực giác, bằng kinh nghiệm uyên ảo của nội giới. Nhiều khi, hướng tiếp cận của người đọc vênh lệch, xa rời so với ý tưởng sáng tác của thi sĩ, điều này đã tạo ra sự thoả thuận mới, mà chúng ta ít thấy ở thơ truyền thống. Mỗi một sự thoả thuận là một hành trình đến với giá trị của thi ca.

Chúng ta không nên lấy một khuynh hướng sáng tác nào làm tiền đề đánh giá thơ. Mỗi thi sĩ đều có cách diễn đạt, tư duy khác nhau, miễn thơ làm ra hay, thể hiện được giá trị sống và giá trị người. Nói cách khác, thơ hay là thơ xếp chồng cảm xúc của thi sĩ lên cảm xúc của mọi người, rồi tiếp tục sóng đôi sự rung chấn ấy lên bạn đọc. Nhờ thế, "nhu cầu và khát vọng nhân sinh" trong thơ mới được trừu xuất một cách thẩm mỹ. Lúc này, sự không tách rời giữa tính nhân sinh và tính thẩm mỹ là thước đo sáng tạo, tiêu chí minh định cái hay của thơ.

Thi ca Bắc miền Trung đã và đang nỗ lực khẳng định và làm mới từ chất liệu đến thi tính. Những đổi mới, đột phá để tạo cái mới, cái hay trong một số sáng tác của các cây bút trẻ cũng ít nhiều cho thấy những ứng xử đẹp đối với thơ. Liên kết, nhập cuộc nhưng vẫn kiến tạo bản sắc và khác biệt.

Hoàng Thụy Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).