Thành hoàng - Thần bảo hộ: Một mẫu số chung!

Theo nghĩa chữ Hán, “thành” là cái thành, “hoàng” là hào bao quanh. Hào có nước gọi là trì (thành trì), không có nước là hoàng (thành hoàng). Ý này có trong thành ngữ Hán cổ: “Đắp đất làm thành, đào hào làm hoàng”.

Ngày xưa, bên Trung Quốc, thành là một đơn vị tổ chức hành chính, có dân, có chính quyền, theo tín ngưỡng thờ cúng, “thành hoàng” ra đời để chỉ vị thần coi giữ, bảo hộ tinh thần cho cái thành. Thành hoàng đi vào văn hóa theo lẽ tự nhiên, được văn bản hóa trong các sách, cơ bản hơn, được vật thể hóa thành các miếu thờ (có từ những năm thời kỳ Lục triều, khoảng 220 - 589).

Thời kỳ đầu, thành hoàng rất được sùng bái thờ cúng và phú cho những vai trò, chức năng đặc biệt. Như xét xử tội trạng người vừa qua đời. Trong sách “Thái Bình quảng ký” kể có người họ Vương thời Đường, ngã bệnh rồi chết (lâm sàng). Tỉnh dậy, họ Vương kể gặp một vị thần đến nói mệnh đã hết, rồi dẫn đi.

Đến miếu, Thành hoàng xem xét, nói: “Ông này khi sống công đức nhiều, tạo phúc cho bá tánh, theo lý chưa đến “thọ”, sao dẫn đi sớm thế?”, liền được trả về... Hạt nhân của câu chuyện kỳ ảo là răn con người sống phúc hậu, chăm chỉ làm điều thiện sẽ được sống lâu… Lại có chuyện vì có hiếu mà “hoãn” chết. Vị tú tài họ Trương nọ hết mệnh được đưa đến gặp thành hoàng, ông ta mới trình bày mẹ đang ốm nặng… Xem xét thấy vị này hiếu nghĩa mà mẹ già đang cần con trông nom, Thành hoàng liền phê cho cụ già thọ chín năm nữa. Đến khi mẹ mất, lo tang ma chu toàn, họ Trương tắm rửa sạch sẽ, dặn dò gia đình, lên giường nằm ngủ… rồi đi. Truyện răn dạy con người có chữ “Hiếu” sẽ chống được “mệnh”!

Thành hoàng - Thần bảo hộ: Một mẫu số chung! -1
Hình ảnh một ngôi đình (Bắc Bộ) thờ thành hoàng.

Theo con đường tiếp biến gần gũi, hình tượng thành hoàng truyền vào nước ta (khoảng đời nhà Đường?), chịu sự khúc xạ của văn hóa bản địa mà biến đổi cho phù hợp. Bên Trung Hoa là vị thần bảo hộ thành giúp chống kẻ địch chiếm thành (rất rõ trong “Tam quốc diễn nghĩa”), sang Việt Nam đậm tinh thần “văn hóa làng xã” nên thành vị thần bảo trợ dân làng chống lại tai ương, phù hộ ăn nên làm ra, khỏe mạnh… Như hạt giống gieo vào đất tốt lại quang hợp nhiều ánh sáng tình người nên hình tượng thành hoàng lớn thành cây văn hóa, theo thời gian trở nên cường tráng, sum suê, lá cành che cả một khoảng trời văn hóa tâm linh Việt.

Nhưng hiểu theo nghĩa bảo hộ tinh thần thì từ xa xưa, hầu như vùng đất nào, nghề nghiệp nào cũng đều có “thành hoàng” cả.

Trong thần thoại Hy Lạp, có rất nhiều các vị thần bảo hộ cho các vùng đất, xứ sở, ví như nữ thần Hestia, được cai quản dòng sông Hiabao quanh đỉnh Olympus cứu được nhiều người dân xứ Manila nên được tôn làm nữ thần bảo hộ. Lại có thần bảo trợ cho các ngành nghề, thậm chí, cả nghề ăn cắp.

Truyện kể khi vừa đẻ con (Hermes), thần Maia đã biết tính ăn trộm của “quý tử” nên bó con mình trong chăn nhưng Hermes vẫn tìm cách thoát ra được. Hermes đi khắp nơi, thông thuộc hết các đường ngang ngõ tắt. Đến cánh đồng nọ, lừa người chăn bò (Apollo) đã bắt trộm 12 con bò cái... Kẻ trộm buộc vào mỗi đuôi con bò một cành cây rồi lùa đi. Cành cây quét sạch mọi vết chân bò. Ma quái hơn, Hermes còn lấy guốc xỏ vào chân bò rồi cầm đuôi bò kéo đi giật lùi...

Truyện lý giải tính cách con người đã hình thành từ khi mới đẻ nên giáo dục phải quan tâm dạy trẻ từ nhỏ (như các cụ ta dạy: “Dạy con từ thuở còn thơ”). Kẻ trộm luôn ma mãnh, nhiều quỷ kế nên phải hết sức đề phòng…

Trong văn hóa Ấn Độ, Vishnu là vị thần bảo hộ có khuôn mặt người, 4 tay cầm 4 thứ: cái tù và, cái vòng, cái búa, cánh hoa sen tượng trưng cho bốn chất tạo nên vũ trụ. Làm nhiệm vụ duy trì, bảo vệ thế giới, thần được miêu tả có màu da xanh dương, khi cưỡi chim thần Garuđa, lúc lại có dạng nửa người nửa chim, có lúc nằm trên mình con rắn Naga…

Gần gũi hơn với văn hóa Việt, người Khmer (Campuchia) có tục thờ Neak Tà trong các phum, tương tự như thành hoàng của cư dân Bắc Bộ (Việt Nam). Đặc trưng miếu thờ Neak Tà là thờ vài hòn đá to, nhỏ hình bầu dục, nhẵn tự nhiên. Có nhiều cách hiểu, đó “là hồn của những người đã chết từ lâu”; là “các vị thần đồng áng hay thần ở trong rừng mà người ta phải cầu xin”; là tàn dư của tín ngưỡng thờ đá ở Nam Á… nhưng hầu như thống nhất cho đó là thần bảo hộ. Được phân thành nhiều bậc khác nhau, tùy từng bậc cao thấp mà cúng bằng đầu heo, bằng gà, vịt… Neak Tà được hình dung là người đàn ông, là một nhân vật lịch sử, nhân vật trong huyền thoại, hoặc tên của vị thần Bà La Môn… Điều này cho thấy tín ngưỡng Neak Tà chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Bà La môn giáo.

Người Lào cúng “Kan liệng Mặc Hể Xặc” (thần bảo hộ bản mường) vào ngày rằm tháng 7 (rằm tháng 5 âm lịch Việt Nam) với mong muốn âm binh ma mường phù trợ thoát khỏi bệnh tật khi mùa mưa bắt đầu. Ngày xưa, do địa hình rừng núi, khí hậu ẩm, các loại bệnh dịch dễ lây lan, khó chữa… nên khát vọng lớn nhất của người dân là được khỏe mạnh, sinh sôi, phát triển. Thế nên đặc trưng việc cúng ma bản, ma mường là nghi thức dâng hoa sen - biểu tượng của linga (hình dương vật), hiện thân của thần Siva trong Bà La môn giáo.

Thành hoàng - Thần bảo hộ: Một mẫu số chung! -0
Hestia - thần bảo hộ cũng là thần bếp lửa.

Như vậy tín ngưỡng thờ thành hoàng (gọi chung) đều mang khát vọng ấm no, hòa bình, đủ đầy… Nói chung là đậm đà tinh thần nhân văn. Ở nước ta, là một tín ngưỡng chủ đạo mang đậm bản sắc Việt ngày càng sâu đậm. Sang đầu thế kỷ XXI, tín ngưỡng này càng phát triển với biểu hiện bề ngoài là sự phục hồi, tôn tạo và xây mới nhiều đền miếu, có nơi nguy nga, bề thế… Không chỉ phù hợp với tín ngưỡng bản địa: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá”, phù hợp với khát vọng nhân văn chung mong muốn có một cuộc sống an lành, yên ấm…, cơ bản hơn có lẽ phù hợp với không gian địa văn hóa.

Mô hình cơ bản của làng Việt xưa là lũy tre bao quanh mang chức năng bảo vệ của thành, ra vào bằng hai cổng. Cổng chính thường phía Đông đón ánh nắng, đón khách. Cổng phụ hướng Tây đi ra ngoài đồng và nghĩa trang. Phía ngoài lũy tre thường là hào nước (trì). Thế nên trong từ vựng tiếng Việt, khái niệm “thành trì” quen thuộc, xuất hiện nhiều hơn khái niệm “thành quách”. “Quách” là bức tường thấp hơn bên ngoài thành. Trong không gian khép kín ấy, tất yếu phải có thần linh bảo hộ, không thần nào phù hợp hơn với thần thành hoàng.

Thế nên có thể khẳng định, giả sử không có sự tiếp biến từ văn hóa Trung Hoa, với những đặc điểm trên, làng xã Việt cũng sẽ có ông “thần thành hoàng” của riêng mình. Hẳn nhiên, nhờ sự tiếp biến mà biểu tượng xuất hiện sớm, đa dạng hơn về biểu vật, đa nghĩa hơn về biểu cảm. Xét về bản chất, thần này thực ra cũng là sự “mở rộng” của thần thổ công có ở mỗi nhà. Vì thế mà làng nào cũng có thần thành hoàng riêng.

Thành ngữ “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” nói về tính cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa, có hạt nhân là mỗi làng có ông Tổ riêng, tức có bản sắc riêng, tạo ra sự đa dạng, nhiều vẻ của làng Việt cổ. Làng lại gắn liền với nghề. Theo thời gian, nghề ngày càng mở rộng, phong phú, cũng tất yếu có ông Tổ nghề riêng. Ông Tổ nghề này, thực chất cũng là một “thần thành hoàng”, nói cách khác là “thần bảo hộ”.

Mang chức năng cơ bản là “hộ quốc tí dân” (bảo vệ nước che chở dân) nên hình tượng thành hoàng mang những ý nghĩa chính: xây dựng, bồi đắp ý thức về lòng biết ơn. Thành hoàng có thể là có thật, là người có công với làng như lập làng, lập nghề, đuổi giặc, cứu người hoặc vinh danh cho làng... Thế nên không chỉ là tín ngưỡng, còn là sự thể hiện đạo lý. Thứ nữa là giáo dục ý thức giữ gìn lệ tục (lệ làng). Mỗi làng có tập quán riêng, được ghi vào hương ước (tất nhiên có thần thành hoàng với tiểu sử, công lao,…) để truyền đời cho con cháu tự hào, góp phần làm vẻ vang rạng rỡ truyền thống. Cơ bản nhất là giáo dục ý thức đoàn kết cộng đồng.

Có thể nói thành hoàng là điểm tựa tâm linh của làng chứng kiến đời sống, ban phúc độ trì hay giáng họa trừng phạt... Tết nhà quê xưa, ngày 23 tháng Chạp, cúng xong thần linh thổ địa ở nhà mình thì mọi người ra đình cúng thành hoàng cầu khấn cả làng mạnh khỏe, bình an, phát tài, phát lộc... Rộng hơn, cầu cho “quốc thái dân an”!

Như vậy thành hoàng, về bản chất là vị thần bảo hộ như một mã văn hóa ký gửi trong đó rất nhiều ý nghĩa riêng. Điểm chung nhất, đó là một mẫu số chung có ở mọi nơi trên thế giới thể hiện khát vọng hướng đến cái tốt lành, may mắn, hạnh phúc.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).