Thăm tháp cổ Vĩnh Hưng

"Đây là ngôi đền tháp thuộc về nền Văn hóa Óc Eo duy nhất còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long" - PGS.TS Đỗ Lệnh Hùng Tú, người nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy văn hóa Nam bộ đã giới thiệu ngay khi chúng tôi tới thăm ngôi đền tháp độc đáo được phát hiện năm 1911 này.

Đứng trước ngôi đền tháp cổ, chúng tôi ngỡ như nó mới được ông Lunet de Lajonquiere, người Pháp phát hiện ra. Nghĩa là ngôi đền tháp vẫn đứng sừng sững mà "đơn côi" giữa màu xanh của cây, của lúa.

Theo lời kể, hồi phát hiện ra ngôi đền này, cả khu vực quanh đây đều ngập nước, chỉ trên một gò đất nổi lên giữa mênh mông ấy là cây lá rậm rạp che khuất mọi vật. Nhà nghiên cứu người Pháp đã linh cảm rằng bên trong sự rậm rạp kia là một thứ gì đó rất đáng khám phá. Và thế là ông cùng đồng sự kiên trì vạch lá phát cây. Một ngôi đền được xây bằng gạch nung đã hiện ra. Ông đặt tên là tháp Trà Long. Đến năm 1917, một nhà nghiên cứu người Pháp khác tên là Henri Parmentier tiếp tục khảo sát và công bố kết quả trong tập san của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp với tên gọi mới là tháp Lục Hiền.

Thăm tháp cổ Vĩnh Hưng -0
Tháp cổ Vĩnh Hưng hiện nay.

PGS.TS Đỗ Lệnh Hùng Tú giải thích thêm cho chúng tôi sau khi tôi có ý thắc mắc vì sao ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lại đã từng có và tồn tại một nền văn hóa cổ như vậy. Xưa kia vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất "Thủy Chân Lạp", có nghĩa là vùng đất ngập nước của nhà nước Chân Lạp. Ban đầu Chân Lạp là một nhà nước chư hầu của nhà nước Phù Nam ở phía Bắc, tức là vùng Nam Trung bộ hiện nay. Nhưng chỉ trong vòng 60 năm sau đó, nhà nước Chân Lạp này đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt nhà nước Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 nhà nước Chân Lạp đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam".

PGS.TS Đỗ Lệnh Hùng Tú nói đến đấy thì dừng lại, ông nhìn vẻ mặt vẫn còn chưa nguôi thắc mắc của chúng tôi, rồi nói tiếp: "Cái hay là nhà nước Chân Lạp tuy thôn tính nhà nước Phù Nam nhưng họ lại hấp thu nền văn hóa Phù Nam. Mà văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa có nguồn gốc bản địa, chủ nhân của nó là những cư dân Phù Nam. Và văn hóa Phù Nam chịu ảnh hưởng tín ngưỡng Bà la môn truyền từ Ấn Độ tới".

Thăm tháp cổ Vĩnh Hưng -0
 Bàn mài thuốc cổ.

Tháp cổ Vĩnh Hưng được gọi như hiện nay bởi các nhà khoa học Việt Nam đã đặt tên theo địa danh mà ngôi đền tháp hiện hữu - xã Vĩnh Hưng A, thuộc huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Tháp cổ Vĩnh Hưng xưa kia có lẽ không đơn lẻ mà là cụm kiến trúc tín ngưỡng với nhiều tháp hoặc nhiều khối nhà, là nơi các tín đồ đạo Bà la môn thờ linh vật phồn thực theo tín ngưỡng của mình. Bên trong lòng tháp cổ Vĩnh Hưng chúng tôi được mục sở thị hai linh vật của tín ngưỡng đạo Bà la môn, đó là linh vật Linga (sinh dục nam) và linh vật Yoni (sinh dục nữ). Đấy đều là hai linh vật có tính phồn thực mà người theo đạo Bà la môn rất tôn trọng. Dĩ nhiên khi tạc ra nó người xưa đã đạt tới độ nghệ thuật và gạt bỏ được sự dung tục.

Chúng tôi sau khi đã quan sát thật kỹ bên trong, bên ngoài của Tháp cổ Vĩnh Hưng, dĩ nhiên cũng chụp kha khá các kiểu ảnh, thì được anh Đặng Văn Khoa, cán bộ Ban quản lý các khu di tích và danh thắng tỉnh Bạc Liêu, hiện là người trông coi kiêm thuyết minh viên di tích Tháp cổ Vĩnh Hưng mời vào tham quan nhà trưng bày hiện cổ vật tháp Vĩnh Hưng. Cũng như các ngôi đền tháp cổ khác, tháp cổ Vĩnh Hưng được xây dựng dạng gạch nung. Cho đến giờ giới khoa học vẫn chưa thể nói chắc chắn được rằng: Tháp Vĩnh Hưng được xây dựng bằng gạch nung trước hay xây dựng xong mới nung? Tuy nhiên, dấu ấn kiến trúc cổ xưa bao giờ cũng là "bí mật lịch sử" để người đời sau phải "lao tâm khổ tứ" tìm lời giải thích.

Anh Đặng Văn Khoa chỉ tay vào từng hiện vật khảo cổ đang được trưng bày trong Nhà trưng bày. Đây là một chiếc bàn mài thuốc bằng đá, nhìn thoáng biết ngay chiếc bàn mài thuốc này giống hệt những chiếc thuyền tán thuốc bắc bằng đồng của những thầy lang đông y. Anh Khoa cho biết thêm: "Căn cứ vào bàn mài thuốc bằng đá này cho thấy từ rất lâu những cư dân cổ đã biết công dụng của cây lá thuốc và biết cách bào chế thuốc để chữa bệnh. Điều đó cũng cho thấy người xưa đã có kỹ năng, kỹ nghệ trong sản xuất ra những thứ thuốc có nguồn gốc từ chính mảnh đất họ sinh sống.

Thăm tháp cổ Vĩnh Hưng -0
Cổ vật trong nhà trưng bày.

Ngoài công cụ bằng đá, các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy ở Tháp cổ Vĩnh Hưng nhiều vật dụng được làm bằng gốm. Điều này không có gì ngạc nhiên bởi người xưa đã biết cách nung gạch xây dựng tháp tinh vi đến nỗi chúng ta hiện nay vẫn lắc đầu thán phục. Chúng tôi đã được xem những chiếc bình đựng nước có vòi rót chẳng khác gì những chiếc ấm (tích) pha chè. Hẳn người xưa đã biết cách tích trữ nước sạch hoặc nước đun sôi để sử dụng hàng ngày. Bên cạnh đó là những chiếc hũ đáy tròn để đựng (chứa) nước, tất cả đều bằng gốm, chứng tỏ công nghệ sản xuất thủ công nghiệp với kỹ nghệ bàn xoay đã có ở vùng đất này từ rất sớm. Rồi còn những viên gạch dùng để trang trí trong xây dựng có hình giống chiếc lá đề. Những vật dụng trang trí khác như những đầu trụ bằng gốm.

Ở một gian trưng bày khác chúng tôi đã thấy những dụng cụ lao động sản xuất, đặc biệt là đồ trang sức được chế tác từ đá quý. Mấy cô, mấy chị trong đoàn rất thích thú với món đồ trang sức đó. Nói vui chứ nếu được phép thì hẳn sẽ có cô nào, chị nào đó đeo thử để chụp ảnh đưa lên "phây" cho độc đáo.

Sau khi thăm và tìm hiểu qua nhà trưng bày, trong chúng tôi nẩy ra mấy "tranh cãi", đó là niên đại của Tháp cổ Vĩnh Hưng và ai là người xây dựng nên ngôi đền tháp này? Nếu như khẳng định tháp cổ Vĩnh Hưng thuộc về nền Văn hóa Óc Eo thì "tuổi đời" của nó ước chừng trên ngàn năm bởi "Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa cổ hình thành và phát triển ở Nam bộ Việt Nam từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7 sau Công nguyên. Đây là một nền văn hóa lớn trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với đất nước, con người ở vùng châu thổ hạ lưu sông Mê Kông, mà cụ thể là nhà nước Phù Nam và có quan hệ mật thiết với lịch sử Đông Nam Á cổ đại".

Còn như căn cứ vào cổ vật khai quật được, thì tuổi đời của Tháp cổ Vĩnh Hưng chừng thế kỷ 9 và vẫn do người Phù Nam xây dựng. Nhưng nếu dựa vào phong cách kiến trúc cùng kỹ thuật xây dựng thì Tháp cổ Vĩnh Hưng na ná như những Tháp Chăm hiện hữu ở nam Trung bộ và do người Chăm thực hiện. Như vậy Tháp cổ Vĩnh Hưng được xây dựng cách đây khoảng từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 6, bởi thời kỳ đó người Chăm với nhà nước Chăm Pa của mình do bị các nhà nước khác "dồn ép" nên người Chăm dịch dời về phương Nam. Họ (người Chăm) đã định cư ở vùng đất Tây Nam bộ hiện nay và dĩ nhiện họ đem theo tục thờ cúng tín ngưỡng của mình, cùng lối kiến trúc đền tháp của mình để xây dựng nên Tháp cổ Vĩnh Hưng?

Còn anh Đặng Văn Khoa cho hay: "Từ những hiện vật bằng đồng, bằng đá và bằng gốm được khai quật đã cho thấy một giai đoạn phát triển và phát triển khá dài kể từ khi nhà nước Chân Lạp thôn tính nhà nước Phù Nam trên vùng đất Tây Nam bộ hiện nay". Câu trả lời vẫn thuộc về phía các nhà khoa học.

Năm 2011, di tích Tháp cổ Vĩnh Hưng được trùng tu lớn, những chỗ tường gạch bị bong tróc hay hỏng hóc đều đã được sửa chữa, hàn gắn gần như nguyên bản. Anh Khoa cho hay: "Khi tiến hành trùng tu Tháp cổ Vĩnh Hưng, chúng tôi đã phải ra tận Ninh Thuận, Bình Thuận để "đặt hàng" bà con người Chăm. Bởi lẽ người Chăm rất tinh thông việc xây dựng tháp gạch nung. Gạch cũng như một số thứ bằng gốm khác đều được phục dựng từ chính những lò gốm Chăm, do người Chăm sản xuất và từ chính thứ đất "Chăm" đấy". Rồi anh Khoa chỉ tay lên tấm bằng công nhận là "Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia" cho Tháp cổ Vĩnh Hưng do Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) cấp năm 1992.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).