Tản mạn lúc ru con

Thời còn trẻ, đọc sách nghĩ một đằng; lớn lên một chút, đọc lần nữa, lại nghĩ qua kiểu khác.

Trước kia, đọc truyện ngắn Thạch Lam, không thích lắm. Hầu như chẳng có tình tiết xung đột gì ghê gớm, gay cấn, hồi hộp. Phải là Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao… thì mới đã, mới sướng. 

Bởi vì rằng, tình huống ấy dữ dội khiến đôi lúc phải phì cười cay đắng, phải ngậm ngùi dào dạt. Thế rồi, vừa đọc lại Thạch Lam, bỗng dưng xao xuyến không nguôi. Tại sao trước đó, lại không cảm nhận? Câu chuyện này thật, rất thật, y mới vừa trải qua nên thấm thía quá đi mất.

Có một điều vừa nghĩ lại

Rằng, vợ chồng Tân vừa có đứa con đầu lòng. “Tân cúi xuống giường vợ chàng đương ngồi, và hai tay giữ chân đứa bé đặt nằm trước mặt. Hai bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé đang cọ quậy, giơ lên giơ xuống, hai con mắt bé lờ đờ, như hơi ngạc nhiên nhìn. 

Vợ chàng sung sướng hỏi: “Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?”. Nàng giơ ngón tay cho đứa bé nắm rồi tiếp: “Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!”. Ơ hay, Thạch Lam viết cho chính y đấy chăng? Một cảm giác, một nhận xét mà y vừa trải qua. 

Rõ ràng, lúc ở Từ Dũ, có lúc đang khóc, con bé đỏ hỏn đầu lòng cũng nắm chặt tay y, chẳng khác gì. Ở Thạch Lam là sự tinh tế. Nếu không, sức mấy ông có thể viết những trang bàng bạc cảm xúc, tình cảm dịu vợi qua Hà Nội 36 phố phường.

Thêm chi tiết này nữa: “Buổi sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân đã hỏi vợ: “Em đâu?”. “Nó ngủ, cái gì thế?”. “Tôi có cái này hay lắm”. 

Tân giơ lên cho vợ xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng bước lại bên cạnh cái nôi rủ màn trắng sạch sẽ. Vợ chàng vội nói: “Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong”. 

Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn, nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn trong vải trắng. Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười. Và Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy. Ai đã làm chồng, làm cha lại không trải qua giây phút ấy?

Có một điều, nghĩ lại, buồn cười thật. Đại khái, lúc còn trẻ, chưa lập gia đình, nhiều người tự nhử: “Sau này, con mình do vợ mình đẻ ra, phải thế này, phải thế kia”. 

Tức phải cỡ ông này, bà nọ mới xứng với danh phận, ước mơ to tát của đời mình. Nhưng rồi, lúc ngồi trước phòng đợi, chờ vợ vào sinh, trăm người như một đều quên béng đi cái khát vọng ngông nghênh và đáng yêu đó. 

Vậy, lúc đó họ nghĩ gì? Y đồ rằng, họ chỉ nghĩ đến bốn chữ “Mẹ tròn con vuông”. Chỉ cần được như vậy, đã là hạnh phúc, là món quà vô giá.

Với mỗi giai đoạn cuộc đời, món quà vô giá ấy cũng khác nhau. Trước kia, với y, chỉ có sách. Tìm mua, được tặng một quyển sách hay là nâng niu trum trủm, khẽ lật từng trang, suốt ngày ngắm nhìn mãi không chán. Vâng, đúng là thế. 

Cái thời chưa có internet, thử hỏi, với những người chơi sách cũ chẳng hạn, nếu vớ được quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, bản in năm 1909 của nhà nho Nguyễn Liên Phong thì sao? Thì sướng đến độ ngất trên cành quất, chứ còn gì nữa?

Thêm niềm vui sống

“Đây là bộ sách ít ai giữ được và trở nên một tập phẩm hiếm có của những người chơi sách”. Cụ Vương Hồng Sển đã viết như thế trong Sài Gòn năm xưa. Do đó, từ lâu, y cố gắng phải tìm mua cho bằng được. Tất nhiên, bao của cũng tìm đến người, nếu thật sự có duyên với nhau. 

Trưa nay, ngồi nhìn bé đang ngủ, nghe văng vẳng bên tay lời của của vợ, tưởng chừng như nàng đang nhắc lại câu văn của Thạch Lam: “Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!”. Ừ, thì chặt. Ngủ ngon. Không nhè, khóc quấy. Nhờ thế, y có giây phút yên tĩnh đọc lại quyển sách đã mua, đã gìn gìn từ thời sinh viên mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn.

Quyển sách này in theo khổ 16x27cm, 50 trang do “Phát Toán-Libraire Imprimeur, 55-57 rue dOrmay” ấn hành năm 1909. Đường dOrmay, nay là đường Mạc Thị Bưởi. 

Trong phần tựa, tác giả viết: “Năm Nhâm dần, tháng giêng, ngày vọng/ Nhơn lúc nhàn vó lộng bút nghiêng/ Dạo Nam Kỳ sáu tỉnh sơn xuyên/ Xem nhơn vật, đủ miền mọi chỗ/ Ơn tứ hải, đệ huynh điều độ/ Giúp hành trình, phi lộ kim ngân/ Hơn năm dư, chép thảo lần lần/ Thành một cuốn xa dần cát hạt/ Cách đặt dùng quấc âm lục bát” v.v… 

Qua bài tựa này, y hiểu rằng, tác giả đã ngao du đây đó, những điều mắt thấy, tai nghe đã được chắt lọc để đưa vào thơ. Chính nhờ “thâm nhập thực tế” nên trong tập sách này ngồn ngộn tư liệu, những sự việc. Ở đây không có chỗ cho trí tưởng tượng, hư cấu. Nhờ vậy, tập sách rất có giá trị cho những ai muốn tìm hiểu về Nam Kỳ thuở đó.

Sau phần tựa, tác giả dành 220 câu lục bát miêu tả địa thế, địa lý Nam Kỳ, đi sâu miêu tả từng vùng đất: Vũng Tàu, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Tây Ninh, Gia Định. Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An… 

Chẳng hạn về Sài Gòn, tác giả ghi nhận: “Thứ nhứt đường Ca-ti-na/ Hai bên lầu cát, phố nhà phân minh/ Bực thềm lót gạch sạch tinh/ Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều”. 

Hàng hóa thời đó khá phong phú: “Những đồ Đại Pháp, Huê Kỳ/ Ăng-lê, Nhựt Bổn món gì cũng sang”. 

Từ đó, nẩy sinh một tầng lớp lao động mới: “Chực đường có trẻ cu-li/ Kêu đâu sẵn đó đem đi lẹ làng/ Lớp thời xuống bến Nam Vang/ Lớp qua Khánh Hội, lớp sang Nhà Rồng/ Lớp xe về lối ngoài trong/ Lớp đi theo dõi mấy ông dọn nhà”.

Khung cảnh Sài Gòn những năm đó đã được miêu tả hết sức sống động: “Phong lưu cách điệu ai bằng/ Đường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa”. 

Nhà hát lớn được xây dựng “lối năm 1898, đến ngày 1 tháng giêng năm 1900 ăn lễ lạc thành lớn lắm” (Vương Hồng Sển) thì 9 năm sau, nó được ông Nguyễn Liên Phong đưa vào thơ như thế này: “Thứ năm, thứ bảy, thứ ba/ Với đêm chủ nhựt hát Nhà hát Tây/ Nước nào tục nấy cũng hay/ Tiếng đàn nghe hát, nghe say tính tình/ Nhà hát cất giữa châu thành/ Họa đồ lấy kiểu bên thành Ba-ri”. 

Kế đến, tác giả miêu tả Nhà thờ Đức Bà - đặt viên đá đầu tiên vào ngày 7-10-1877, đến ngày 11-4-1880 làm lễ khánh thành: “Đá xây bốn phía vách thềm/ Mặc nền hoa thạch trơn êm làu làu/ Lầu chuông chót vót vọi sâu/ Hai cây thành giá hai đầu trên cao/ Đồng hồ chỉ đúng khắc sao/ Người qua kẻ lại nhắm vào phân minh”

Hiện nay, nhà thờ đang trùng tu với các vật liệu y chang thuở ban đầu, vì thế những người thực hiện đã đến làng Bray-et-Lu là nơi duy nhất ở Pháp chuyên sản xuất tôn kẽm ngày xưa; rồi đến Roumazières-Loubert, cách đó 500km để tìm đúng ngói mũi tên (ngói Marseille) v.v… Dự kiến 2, 3 năm nữa sẽ hoàn thành.

Bên cạnh nhà thờ, còn “Có tòa dây thép coi phần điển thơ”, với các phương tiện vận chuyển bưu chính: “Biên Hòa còn dạng xe tờ/ Mới bây bảy giờ xe máy Tây Ninh”

Xe tờ, y tìm hiểu là một thứ xe bốn bánh gỗ bọc sắt, cao lêu đêu, trước có băng ngang hẹp dành cho người cầm cương, sau đó hai băng dọc đối diện dành cho hành khách, do hai con ngựa kéo. Vì xe chở công văn, tờ trát của nhà đương cuộc nên gọi tắt “xe tờ”. 

Tác giả cũng nhắc đến Trường Chasseloup Laubat (nay  là Trường Lê Quý Đôn), Trường Taberd (nay Trường Cao đẳng Sư phạm): “Nam Kỳ sĩ tử tinh chuyên/ Nhiều người thành đạt liền liền trước sau/ Taberd trường lập đã lâu/ Dekerland trước làm đầu khơi ra”. 

Qua những câu thơ này, ta biết Trường Taberd, còn gọi là Trường Thầy Dòng do cha Henri De Kerlan thuộc Hội Truyền giáo lập ra năm 1874.

Một trong những nơi quen thuộc với Sài Gòn xưa là “Bồn Kèn” - góc nhà hàng Continental và nhà hàng Pancrazi. 

Tác giả kể lại chi tiết thú vị: “Gặp Tường thời Trị mắng ngay/ Bởi vì tà tửu ít hay kiêng dè”. Phan Văn Trị mất năm 1910, rõ ràng cuộc bút chiến giữa ông với Tôn Thọ Tường  đã gây được tiếng vang và ảnh hưởng chính trị thời bấy giờ. Thế thì, vì sao gọi “Bồn Kèn”? Tác giả giải thích: “Mu-dích nơi các bồn kèn/ Vui lòng hứng chí nghe bèn giải khuây”. 

Cụ Vương Hồng Sển cho biết cụ thể: “Mỗi chiều thứ bảy tại bệ này, có mấy chú lính săn-đá trỗi nhạc Tây cho đồng bào ta thưởng thức”. Mu-dích là phiên âm từ musique, tiếng Pháp. Không những thế, đôi lúc còn đọc thành “mủ-di”. 

Bằng chứng, Sài Gòn xưa có câu vè: “Thượng Thơ bán giấy/ Thủ Ngữ treo cờ/ Nào ai núp bụi núp bờ/ Mủ-di đánh dạo, bây giờ bỏ em”.

Thời đó, đã có lệ báo giờ vào buổi trưa: “Có chỗ cân giờ nhựt trung/ Trên tàu Ông Thượng đặt vòng địa la/ Có năm ba phút vậy mà/ Đem đồ hiệu lịnh kéo qua cột cờ/ Đợi đến đúng mười hai giờ/ Đồ kia rớt xuống, súng hờ giựt dây/ Nổ lên một tiếng vang vầy/ Châu thành bốn phía sum vầy giấc trưa”. 

Về lĩnh vực báo chí, tác giả cho thấy hồi ấy ở Nam Kỳ đã khá phát triển: “Phan Sa, quốc ngữ nhựt trình/ Mỗi tuần in bán sự tình lăng xăng/ Gia Định là báo công văn/ Phát ra các hạt lệ hàng không sai”.

Riêng địa danh Bến Nghé đến nay vẫn còn nhiều cách giải thích khác nhau, thì theo tác giả: “Nguyên xưa rậm rạp còn rừng/ Trâu thường dằm tắm hoặc chừng nghé kêu/ Ngày nay phong cảnh tốt đều/ Tàu ghe lớn nhỏ đậu bèo hai bên/ Đò dọc rước mối xuống lên/ Giành nhau xâu xé vang rên cả ngày/ Ghe bầu xắp lớp đậu ngay”. Những câu thơ này cho thấy cảnh sầm uất của Bến Nghé những năm đó.

Đọc sách xưa cũng là một cách quay ngược về quá khứ. Anh ngon trớn đọc ngân nga tiếng trầm giọng bổng như một cách ru con, bỗng đâu giật mình cái thót. Vợ bảo: “Bây giờ là lúc anh nên tìm đọc các sách nuôi dạy con là hợp tình, hợp lý nhất”. 

Rồi lại nói luôn một hơi: “Đã biết cách ẵm con chưa? Chưa. Biết thay tã chưa? Chưa. Biết pha sữa chưa? Chưa. Thế thì còn “nai” lắm. Cố gắng lên anh”. Ừ, thì cố. Mà đôi khi tri thức ở trên đời nào có phải thu nhận từ sách. Với một đứa trẻ, lọt lòng mẹ, ngay lúc ở bệnh viện đưa về nhà thì sao? 

Vợ của nhà biên kịch Đoàn Tuấn dặn dò qua điện thoại: “Ngày ấy, anh phải bôi son vào trán bé, phải đem theo con dao nhỏ, đôi đũa, củ tỏi nữa”. Ấy là một cách “làm phép” dân gian, tuy nhiên cũng có người bảo lấy nhọ nồi bôi vào trán. Đại khái thế, nào ai biết đúng sai nhưng rồi cũng phải làm theo.

Lại nữa, sách vở nào dạy nếu bà mẹ vừa sinh con đầu lòng chưa có sữa cho con bú thì phải làm “mẹo” gì? Câu hỏi này, hay lắm. Cô nàng đã làm theo và hiệu nghiệm ngay tức thì. Thì nay, ghi lại cho những ai cần tham khảo. Rằng, mua lấy men làm rượu nếp, giã nát hòa tan với rượu trắng xoa hai bên “đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm”. 

Đơn giản mà hiệu quả. Mẹo này, sách vở nào ghi? Sực nhớ đến câu văn của Thạch Lam viết về tâm trạng của một người đàn ông lần đầu, lần thứ nhất trong đời được làm cha, bao giờ cũng là lúc: “thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy”. Y cũng thế thôi.

Hôm nọ, lần đầu tiên có trong nhà là chiếc nôi xinh xắn, quà của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đem đến tặng cho bé. Thích quá. Thay mặt bé mà viết rằng: “Mai này, khi khôn lớn/ Bé nói với mẹ ba:/ "Từ chiếc nôi ngày ấy/ Nay vạn dặm đường xa/ Thế nào con cũng đến/ Con dẫn mẹ cùng ba/ Tung tăng đi mua sắm/ Tìm thiệt nhiều món quà/ Tặng lại cho bác Ánh". 

Câu thơ đang ngon trớn nhả ngọc phun châu, dạt dào thì hứng bỗng đâu nghe réo rắt âm vang như tiếng đàn sắt, đàn cầm hòa nhau: “Anh ơi, con mới tè ướt cả giường. Mau mau thay tã cho con”. Nghe hay đấy. Cũng là cảm hứng của thơ đấy thôi, phải không nào?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Chương trình Lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng tháng 5/2026 thu hút hàng nghìn người đổ về

Một concert, vạn dịch vụ hưởng lợi

Du lịch âm nhạc tạo ra một nguồn thu lớn khi thu hút lượng lớn người xem, kèm theo hàng loạt các dịch vụ khác như lưu trú, ăn uống, mua sắm. Đây cũng là lý do nhiều địa phương bắt đầu xem các đại nhạc hội như một công cụ phát triển kinh tế, tương tự cách họ từng làm với các lễ hội văn hóa truyền thống.

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Khi danh sách các đội tuyển dự World Cup 2026 được gửi tới FIFA, một thống kê đã làm sáng tỏ vị thế độc tôn của bóng đá Pháp: Với 99 cầu thủ sinh ra tại Pháp - chiếm gần 8% tổng số nhân sự dự giải, vượt xa Hà Lan (67 người) và Đức (50 người) để trở thành nước xuất khẩu cầu thủ nhiều nhất thế giới.

Thanh kiếm quyền lực

Thanh kiếm quyền lực

Trong các câu chuyện về kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công ở nước ta năm 1945, hầu như không thể thiếu đề tài: Đại diện chính quyền cách mạng tiếp nhận ấn, kiếm và chứng kiến Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Sau bốn suất diễn tại Nhà hát Hồ Gươm, vở vũ kịch “Khổng Tước - The Peacock Hanoi 2026” đã khép lại hành trình tại Hà Nội, để lại nhiều dư âm sâu sắc trong lòng khán giả. Không chỉ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ múa tinh tế và không gian sân khấu giàu tính nghệ thuật, vở diễn  tạo nên những rung động mạnh mẽ với người xem.

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Một đoạn clip tranh cãi tưởng chừng chỉ là va chạm cá nhân lại nhanh chóng bộc lộ phía sau nó những vấn đề lớn hơn, đáng để người ta phải suy ngẫm, đó là cách ứng xử của người nổi tiếng trong cuộc sống đời thường, đó là văn hóa kinh doanh, coi khách hàng là "ông nội", sẵn sàng cho người lao động nghỉ việc, khi áp dụng bộ quy tắc cứng nhắc.

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Khi thế giới nói về biến đổi khí hậu, Amazon thường được nhắc đến như “lá phổi của Trái đất”. Nhưng ở phía bên kia Đại Tây Dương, rừng mưa Congo - khu rừng nhiệt đới lớn thứ hai thế giới - đang âm thầm gánh vác vai trò không kém phần sống còn đối với khí hậu hành tinh, trong khi sự quan tâm, nguồn lực và cam kết bảo vệ lại quá ít ỏi.

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Trà Shan tuyết cổ thụ mọc trên những ngọn núi cao, trải dài từ Đông Bắc qua Tây Bắc. Mỗi vùng thổ nhưỡng khác biệt, hương vị trà cũng vì thế mà có nhiều biến đổi. Trà từ phía Đông như Quản Bạ, Tây Côn Lĩnh, Hoàng Su Phì của Hà Giang thiên về vị ngọt, chuyển qua cực Tây với Tủa Chùa của Điện Biên sẽ nồng nàn đắng chát, trục giữa có vùng trà cổ thụ ở Tà Xùa (Sơn La), lại mang sự cân bằng hoàn hảo ở cả hương - vị trong nội chất trà.

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Nếu họa sĩ Nguyễn Thế Sơn kể chuyện Hà Nội bằng nhiếp ảnh phù điêu thì kiến trúc sư Trần Huy Ánh tiếp cận thành phố bằng trực giác của người “khảo cổ” đô thị. Cuộc đối thoại về những ký ức đô thị trong triển lãm “Những ngã rẽ” đang diễn ra ở ngôi biệt thự Pháp cổ ở Hà Nội gợi mở nhiều suy tư về hồn cốt của đô thị, về di sản trong cơn lốc đô thị hóa hiện nay.