Tạm biệt Canh Tý - một đối sánh mở về chuột!

Đêm Giao thừa Canh Tý (2020) nhiều nơi mưa như trút báo hiệu một năm nhiều sự kiện, có dịch COVID-19, thiên tai nặng nề, và nhiều con chuột tham nhũng “vào lò”...

Cư dân vùng văn minh nông nghiệp ghét cay ghét đắng loài chuột vì chúng không chỉ gặm nhấm đục khoét mà còn phá hoại mùa màng. Lại còn nguy hiểm truyền bệnh dịch. Nên trong nền văn hoá nào cũng có nhiều câu chuyện cổ, ca dao, tục ngữ nói về con vật đáng ghét này. 

Ở Việt Nam và Trung Hoa có những câu chuyện về những con chuột già đời thành tinh biến thành người. Cặp vợ chồng nhà nọ mới cưới nhau, chồng phải lên kinh trọ học. Một tinh chuột hoá thành người chồng đêm đêm đến ân ái người vợ với lý do nhớ vợ nên chuyển về trọ gần nhà… Loài chuột gian manh, ma mãnh nên tinh chuột càng ghê gớm. 

Một truyện Trung Hoa kể có lần Bao Công xử án phải nhờ mượn con mèo “ngọc diện kim miêu” (mèo vàng mặt ngọc) của Phật tổ mới bắt được tinh chuột hiện nguyên hình… Những câu chuyện truyền kỳ vừa đọc vừa sợ lại vừa thích, hồi hộp… như truyền đến cho người đọc cái ý thức vừa ghét vừa cảnh giác với các loài yêu ma hắc ám!!!

Nữ thần Chuột Karni Mata.
Nữ thần Chuột Karni Mata.

Thói thường càng ghét thì càng sợ. Vì sợ nên người ta lại tôn loài chuột lên hàng bậc thánh. Một số bộ tộc miền Bắc Thái Lan, phía Nam Indonesia có truyền thuyết loài chuột trúc có công báo hiệu cho hai anh em (một nam, một nữ) về đại hồng thủy sắp diễn ra. Thoát nạn nhờ chui vào chiếc thuyền mộc, sau đó họ lấy nhau rồi tái sinh ra loài người. 

Truyền thuyết Trung Hoa lý giải vị trí đầu tiên của chuột trong 12 con giáp là do lệnh của Ngọc hoàng: Con vật nào đến cổng thiên đình trước sẽ được chọn trước. Trâu chăm chỉ thức dậy đi từ đêm. Chuột lém lỉnh nghĩ kế ngồi lên lưng trâu. Gần đến nơi, chuột nhảy về phía trước nên được chọn. Trong văn hoá Trung Hoa, chuột vừa là kẻ phá hoại vừa có khả năng dự báo thiên tai nên người ta thờ chuột. Nhiều nơi còn dựng cả miếu riêng. Trong ngôn ngữ, cùng với loài hổ, chuột được kính trọng đến mức gắn chữ “lão” phía trước: “lão thử” (ông chuột), “lão hổ” (ông hổ)...

Chuột trong văn hóa phương Tây cũng mang những ý nghĩa xấu: kẻ phá hoại, kẻ cướp, kẻ gieo bệnh tật. Trong sử thi “Iliad” Homer kể trên đảo Tenedos có một con chuột bạch thiêng sống dưới bàn thờ thần Apollo (thần nghề y, thần ánh sáng, cũng là thần gieo mầm bệnh dịch). Từ đó trong điêu khắc tượng thần Apollo thường được đặt trên thân một con chuột.

Tại thành phố Deshnoke miền Tây Bắc Ấn Độ có ngôi đền Hindu nổi tiếng thờ Nữ thần Chuột Karni Mata. Ngôi đền sáng loáng với các phiến đá cẩm thạch tinh xảo được thiết kế nối từ cổng đến tận bên trong đền. Dĩ nhiên là có chuột nhưng nhiều đến mức người ta ước tính có khoảng 20.000 con. Rất nhiều người không quản xa xôi đến đây làm lễ cúng bái chuột, cũng không ít người đến để thoả mãn sự tò mò.

Truyền thuyết kể do con của một người trong dòng họ của Karni bị chết. Bà thương lượng với Thần Chết Yama để người chết được đầu thai trở lại. Đổi lại tất cả mọi người trong dòng họ Karni khi chết sẽ bị tái sinh làm chuột, chuột chết mới được tái sinh làm người. 

Giáo lý Hindu cho rằng, cái chết chỉ là sự kết thúc của một chương để mở ra chương mới trong quá trình tìm sự hoà hợp vĩnh viễn của linh hồn với vũ trụ. Đó là vòng luân hồi samsara. Con chuột là “một chương” trong quá trình đó. Thế là chuột trong đền được nuôi dưỡng như người. 

Ai đến cũng phải bỏ hết giày dép bên ngoài đền thờ. Ai cũng muốn lũ chuột chạy qua bàn chân để được may mắn. Ai làm chết một con chuột sẽ phải bỏ tiền ra mua một con chuột bằng vàng hoặc bạc trong đền để chuộc lỗi... Thậm chí có người mê tín đến mức “nếm” thức ăn thừa của chuột để lấy… may. Ai cũng khao khát được nhìn thấy một con chuột bạch! Vì đó mới là hiện thân đích thực của Karni Mata.

Tom và Jerry.
Tom và Jerry.

Ở Việt Nam ta trong văn học dân gian hình tượng chuột xuất hiện rất nhiều. Truyện “Trinh thử” là một ngụ ngôn bằng văn vần đặc sắc về chủ đề đề cao đạo lý nhân nghĩa thuỷ chung và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy cạm bẫy. Một đêm chuột bạch đi kiếm mồi về nuôi con chẳng may gặp nạn liền chạy vào một hang nọ, ngẫu nhiên đấy là “nhà” của vợ chồng chuột đực. Lúc này chuột cái đi vắng, chuột Đực bèn đem lời quyến rũ, mồi chài, ve vãn, đe doạ. Chuột bạch cố gắng mềm mỏng, kiên quyết giữ mình… 

Câu chuyện là “lời” của hai nhân vật với những “lớp” ngôn từ đối lập sinh động: ướm hỏi - phản ứng; thăm dò - khẳng định; mồi chài, lôi kéo - phủ định, vạch trần; tấn công - ngăn chặn rất hấp dẫn. Nhân vật chuột đực được đẩy lên thành biểu tượng cho tính cách lả lơi “nguy hiểm”. Do vậy “lời” chuột đực được trau chuốt, bay bướm, văn hoa, đúng là lời của kẻ “tán gái”. 

Khi ỡm ờ: “Hay là nhắn cá gửi chim/ Đêm xuân đón gió đi tìm mùi hương”. Khi thể hiện ta đây một “trang hảo hán” để “thể hiện” trước “phái đẹp”: “Rồng còn uốn khúc ở ao đợi thì”. Thể hiện tầm “quân tử”, bậc “trượng phu” coi thường, coi khinh những kẻ hèn kém, vớ vẩn, (cũng là một cách nịnh bợ chuột bạch): “Kình nghê vui thú kình nghê/ Tép tôm thì lại vui bề tép tôm”… 

Chuột cái đột ngột trở về. Thế là cái ghen “thường tình” nổi lên. Lời chuột cái ngoa ngoắt, chanh chua, đay nghiến, đanh đá nhưng cũng rất bóng bẩy, hoa lá: “Ai ngờ mật sứa gan hầm/ Rắn toan gà luộc rượu tăm thoả lòng/ Già chẳng bỏ, trẻ chẳng tha/ Khác nào như ếch thấy hoa thì vồ”…

Cũng là chuột nhưng người đọc cảm tình với “chuột bạch” ẩn dụ cho người con gái nết na, trinh tiết. Còn tất nhiên, ghét chuột đực, vì đó là… chuột!

Trong thơ bác học thì con chuột còn đáng ghét, đáng căm thù hơn nhiều. Bài “Tăng thử” (Ghét chuột) rất tiêu biểu cho phong cách tiếng cười Nguyễn Bỉnh Khiêm trí tuệ, sâu cay là sự kết hợp hai cảm hứng tương phản chủ đạo: căm ghét và thương cảm: “Chuột lớn sao bất nhân/ Gặm khoét thật thâm độc/ Đồng ruộng trơ rơm khô/ Kho đụn kiệt gạo thóc/ Nông phụ cùng nông phu/ Nghèo khốn miệng gào khóc/... Mệnh dân vốn rất trọng/ Tàn hại chi thảm khốc?”. Người đọc hiểu ngay thấp thoáng đằng sau “lũ chuột” là “lũ người” bất nhân, tức bọn quan lại chuyên hà hiếp, bóc lột, đục khoét dân lành.

Nhà thơ có nhiều bài viết về tình cảnh đáng thương của người nông dân là Nguyễn Khuyến. Có hai chủ đề là lụt lội và nạn chuột phá hoại trong thơ ông thực ra cũng nằm trong đề tài chính về cảnh quê vất vả, nghèo khó. Lụt là đồng nghĩa với chuyện mất mùa. Chuột cũng làm mất mùa. Nên khi nói Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam với những gì thi vị đặc trưng còn phải nói tới Nguyễn Khuyến còn là nhà thơ của nhà quê vất vả, nghèo khó. 

Bài “Điền gia tự thuật” (Nhà nông tự thuật) là cảnh nông phu lao lực, lao tâm khốn khó mà thành quả thu được chẳng là bao: “Còn lo nỗi trời mưa dầm/ Còn lo nước sông lên sớm/ Lúa trổ đòng sợ gặp trái gió/ Khi đâm bông sợ nắng khô/ May được bốn mùa điều hòa/ Nào hay lúa mới tốt/ Lại bị nạn chuột cắn”. Dễ thấy bài thơ cùng một âm hưởng lo lắng bồn chồn của bài ca dao “Người ta đi cấy lấy công”. Ở đây, còn hơn thế, lúa tốt rồi, lại bị nạn chuột cắn. Quả là bao tai họa phải chịu đựng, chua xót, đắng cay!

Thơ Nguyễn Khuyến hay xuất hiện hình tượng con chuột ẩn dụ cho những thế lực cướp phá, bóc lột, ăn bám: “Chuột lớn có thù gì mà lại cắn lúa ta” (Miễn nông phu). Ông có bài “Chuột đói” (Cơ thử) rất sâu sắc, nói cảnh chuột đói để gián tiếp nói cảnh người đói: “Chúng mày không phải kẻ bất nhân/ Nhà ta thực không có gì dành dụm/ Không phải chỉ chúng mày (cắn rứt) như thế/ Vợ con ta cũng thường cắn rứt luôn”. 

Bài thơ tiêu biểu cho lối thơ gợi (chứ không tả) của thơ trung đại hàm súc, giàu ẩn ý. Vì mất mùa, ngoài đồng không còn khoai ngô lúa mà chuột phải vào làng kiếm ăn. Trong nhà cũng chẳng có gì để ăn nên lũ chuột “cắn rứt” lẫn nhau. Tả chuột đói để nói cảnh người đói. Chuột đói một thì người đói gấp nhiều lần! Tiếng cười xót xa cho thân phận nghèo khổ của người nghèo! 

Khi giặc Pháp xâm lược Nam kỳ, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu có bài “Thảo thử hịch” (Hịch đánh chuột) đầy tính ám chỉ. Hình tượng trung tâm cần “đánh” là chuột nhưng ai cũng hiểu đó là giặc Pháp: “Nay có loài chuột/ Lông mọc xồm xoàm/ Tục kêu xù, lắt/ Tính hay ăn vặt/ Lòng chẳng kiêng dè…”.

Năm mới Tân Sửu sắp đến. “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Không chỉ là công cụ, là tài sản, con trâu còn là bạn tinh thần của văn minh nông nghiệp. Năm nay, những ai cần cù, chịu khó, bền bỉ cùng lối sống chân thành, mộc mạc, khi cần thì cũng bản lĩnh, quyết liệt..., tức “tương cảm” với Tân Sửu, chắc chắn sẽ thành công! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).