"Tác phẩm đỉnh cao" kỳ vọng và thực tế!

Sáng tạo một tác phẩm lớn, để đời là khát vọng lớn lao của bất kỳ người nghệ sĩ nào. Không phải chỉ ở nước ta, ở nhiều quốc gia vẫn đau đáu một câu hỏi vì sao thiếu vắng những tác phẩm văn học nghệ thuật (VHNT) mang tầm vóc thời đại, có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có sức lay động và truyền cảm hứng mạnh mẽ. Nhưng kiệt tác luôn hiếm hoi.

Từ điểm tựa các lý thuyết mới, dựa vào sự tham khảo thế giới, đối sánh với tình hình trong nước, mạo muội xin bàn góp một vài ý nhỏ.

image003.jpg -1
Một cuộc hội thảo văn học.

Kế thừa, phát triển từ phản ánh luận, lý thuyết mô hình hiện đại quan niệm về bản chất, sự sáng tạo tác phẩm nghệ thuật là tạo ra một mô hình đời sống mới. Là mô hình, chứ không phải bản thân đời sống (tức không sao chép), tác phẩm là “cuộc sống thứ hai” thoát thai từ đời sống thực, “sâu rễ, bền gốc” từ đời sống thực. Nhìn vào tác phẩm, vừa thấy hiện thực được khúc xạ, vừa thấy tài năng, tâm hồn người nghệ sĩ.

“Hiện thực” ở đây là “cảm thấy” (chứ không phải “nhìn thấy”), tức “hiện thực” được nhào nặn, kết tinh từ vốn sống, hiểu biết, vốn đọc… của chủ thể. Nhờ vậy, hình tượng nghệ thuật mới lấp lánh sống động, bởi được ánh xạ từ các luồng sáng văn hóa từ nhiều đời sống, hôm qua, hôm nay, thậm chí cả ngày mai.

Hình tượng cô Kiều là tiêu biểu. Vừa là “phận đàn bà” sâu chữ Hiếu; là “nữ nhi” nặng chữ Tình, là nghệ sĩ, là món hàng… Vì được “tổng hòa các mối quan hệ” ở mức cao nhất, nên nhìn vào Kiều, ai cũng như thấy mình trong đó.

Các mô hình đỉnh cao này có nhiều trong cổ tích - kho vàng ròng văn hóa của nhân loại. Nhân vật cổ tích phổ quát rộng rãi đến mức ứng vào bất cứ ai. Người đàn ông nào cũng thấy trong mình có cả Thạch Sanh, cả Lý Thông. Người phụ nữ nào cũng có cả cô Tấm, lẫn cô Cám… Hiểu vậy, con người sẽ “đời” hơn, vừa thánh thiện, tốt đẹp, vừa trần tục, có lúc xấu xí…, thế nên phải cố gắng vươn lên cái tốt, tích cực; tránh hoặc hạn chế cái xấu, tiêu cực.

Hướng nghiên cứu mới được hưởng ứng rộng rãi thời hội nhập toàn cầu hóa đầu thế kỷ XXI là “triết học liên văn hóa” (The Intercultural Philosophy) - đi tìm những nét tương đồng trên nền tảng những khác biệt. Từ quan niệm người nghệ sĩ như một cây xanh khỏe mạnh cắm sâu những chùm rễ vào các mảnh đất: văn hóa truyền thống, đời sống thực tế, văn minh nhân loại; rồi vươn cao cành lá vào bầu trời nhân văn quang hợp ánh sáng lý tưởng tiến bộ; nhờ vậy mới kết được những trái cây tác phẩm có hương vị tư tưởng riêng, đặc sắc.

VHNT là tấm gương phản ánh đời sống là đúng, nhưng chỉ là bề nổi. Chủ yếu là quá trình “liên văn hóa” bền bỉ và lâu dài diễn ra ở bề sâu, do không khí thời đại, do năng lực chủ quan cá nhân. "Truyện Kiều" hay thơ Hồ Xuân Hương nổi tiếng, xuất hiện trong bối cảnh đất nước nghèo nàn, lạc hậu.

Giai đoạn 1930-1945, đất nước lầm than nhưng có ba mạch nguồn văn hóa cơ bản ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ nhà văn là tinh thần yêu nước, thơ Đường, văn hóa Pháp. Đồng thời có nhiều luồng gió tư tưởng tiến bộ từ phương Đông, phương Tây thổi tới, tiêu biểu là chủ nghĩa Mác… Những điều kiện thuận lợi đó đã góp phần tạo ra nhiều dòng chảy văn học với nhiều tác phẩm lớn - chính là các “diễn ngôn liên văn hóa”.

Trong lịch sử thế giới có nhiều thời đại tiến bộ nhưng lại thiếu vắng tác phẩm hay. Thực ra vấn đề này đã được Chủ nghĩa Mác lý giải có sự phát triển “không đồng đều” giữa kinh tế, xã hội và nghệ thuật.

Từ những lý thuyết trên xin đưa ra nhận định:

- Mong muốn có tác phẩm “đỉnh cao” tương xứng với thời đại là rất thỏa đáng. Nhưng không thể sốt ruột. Trong lịch sử hàng ngàn năm ở nhiều nước, các tác phẩm “đỉnh cao” cũng chỉ “đếm trên đầu ngón tay”. Ở ta không là ngoại lệ.

- Quyết định chất lượng VHNT là chủ thể người nghệ sĩ. Do vậy, công tác phát triển văn hóa cần đầu tư trọng tâm vào vấn đề con người, từ phát hiện năng khiếu, giáo dục lý tưởng, bồi dưỡng nhân cách, tạo môi trường hoạt động…

image001.jpg -0
Bìa cuốn “Bác Hồ với văn nghệ sĩ” (Nhiều tác giả, NXB Văn hóa - Văn nghệ, 2013).

- Tác phẩm “đỉnh cao” phải tạo ra được hình tượng lớn (như Thạch Sanh, cô Tấm, cô Kiều…). Đó chính là những hình tượng của “liên văn hóa” với hai chiều cơ bản: theo chiều dọc - truyền thống dân tộc; tức giao tiếp nội văn hóa (intracultural communication) và chiều ngang - với thế giới (intercultural). Hình tượng Thạch Sanh có khắp văn hóa Đông Á. Các motif “Thạch Sanh”, “cô Tấm” có hầu khắp thế giới.

- Thời hội nhập và công nghệ, để cạnh tranh với AI, hướng đi tích cực nhất vẫn là “liên văn hóa”. Để đủ vốn kiến tạo những hình tượng bao bọc nhiều lớp nghĩa, đa dạng, phong phú về nội dung; sinh động, hấp dẫn về hình thức, tức tác phẩm sẽ “nói mãi không cùng”, người nghệ sĩ không chỉ đào sâu vào kho báu văn hóa nước nhà, còn phải “giải mã” văn hóa thế giới. Cũng chỉ theo con đường này, tác phẩm mới vươn tới cái đích “mẫu số chung” của văn hóa nhân loại. Tự nhiên, tầm tiếp nhận sẽ rộng mở ra nhiều chân trời khác nhau. Trong khi đó, dù “siêu” đến đâu chăng nữa, nhưng vì là “máy” nên AI không thể tạo ra “hiện thực cảm thấy” để có một “cuộc sống thứ hai” với sự thấu hiểu sâu sắc nhiều cảnh đời, thấu cảm đậm đà bao lẽ người…

Cần có giải pháp gì?

Một, phải khẳng định đường lối văn hóa đúng đắn của Đảng ta hòa cùng nhịp đi thế giới, phù hợp với đặc trưng nghệ thuật. Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa;… là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam”. Và “Tài năng VHNT là vốn quý của dân tộc… Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo…”.

Theo tinh thần ấy, quan tâm tới VHNT không riêng ngành nghề nào mà phải cả hệ thống chính trị, từ xây dựng hệ thống pháp luật, hoàn thiện thể chế đến việc huy động mọi nguồn lực xã hội. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi 2025) có một số điều khoản thúc đẩy xã hội hóa, nên được thể chế hóa khuyến khích đầu tư vào VHNT.

Hai, Tư tưởng Bác Hồ về VHNT rất tinh tế, sâu sắc nhưng chưa được học tập, làm theo đúng mức. Nhà điện ảnh Phạm Văn Khoa kể, Bác dạy: “Làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu” (Lữ Huy Nguyên sưu tầm, biên soạn - "Bác Hồ với văn nghệ sĩ". NXB Văn học, 1995, tr 83). Thế giới hôm nay quan niệm muốn bay cao bay xa vào bầu trời văn hóa nhân loại phải cất cánh từ nền tảng văn hóa dân tộc.

Bác cũng dạy: “Phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới… Nhưng đồng thời lại phải tránh nguy cơ trở thành những kẻ bắt chước...” (Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh, NXB Hội Nhà văn, 2010, tập 3, tr 56). Tức phải giàu có, đậm đà bản sắc, trên cơ sở đó tiếp thu cái hay của người. Đó là linh hồn của “liên văn hóa”. Mới đây, MV "Bắc Bling" (Bắc Ninh) của Hòa Minzy tiêu biểu cho hướng đi kết hợp truyền thống (nội dung nền tảng) với hiện đại (hình thức mới phù hợp).

Ba, trong thời hội nhập, nhà nghệ sĩ phải là “sứ giả văn hóa”, có “năng lực đối thoại với thế giới” bằng tác phẩm. Trong lịch sử, các nhà tư tưởng lớn luôn dùng tác phẩm làm “tiếng nói đối thoại”. Tinh thần đối thoại thấm đẫm trong từng chi tiết, nhân vật. Ví như bài thơ "Thần" (tương truyền của Lý Thường Kiệt) là một đối thoại đanh thép với kẻ thù, khẳng định lãnh thổ, là lời cảnh tỉnh, ngăn chặn một ý đồ xâm lược. Đồng thời là lời nhắc dân ta về tinh thần cảnh giác, khích lệ lòng yêu nước, tự tôn dân tộc.

Ngoài một đối thoại văn hóa về chủ quyền quốc gia độc lập, tự chủ với các nước lân bang, còn là “đối thoại” với cả chân lý lịch sử, với công lý, pháp lý của trời đất… Muốn “đối thoại với thế giới” phải có tác phẩm “tầm thế giới”, tức có tư tưởng mang tính hằng số của văn hóa nhân loại là yêu hòa bình, yêu con người, thiên nhiên, lẽ phải…

Bốn, VHNT là vấn đề bền bỉ, lâu dài. Việc tổ chức trại sáng tác hay triển lãm, đầu tư nhỏ giọt, dàn đều… chỉ là phần ngọn mang tính “động viên”, “khuyến khích”. Phần gốc là cơ chế đầu tư chiến lược. Quan trọng nhất là đào tạo - giáo dục nghệ thuật để có những nghệ sĩ đủ tầm, tâm, tài làm việc. Như một chân lý, có hiểu nghệ thuật mới yêu nghệ thuật, nên phải tính đến việc giáo dục công chúng nghệ thuật. Thanh niên thời @ mấy ai nghe Chèo - hồn dân tộc? Vì không hiểu. Tiếp nữa là tạo môi trường sáng tạo. Không có không gian sáng tác - biểu diễn - trưng bày… sẽ không có tác phẩm lớn.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.