Sông Lô - Một dòng huyền thoại!

Có chiều dài trên 260km, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thuỷ (Vị Xuyên, Hà Giang) đến điểm cuối là ngã ba Việt Trì, còn gọi là Ngã ba Hạc thuộc tỉnh Phú Thọ. Đó là dòng sông Lô. Trước khi hòa nước vào sông Hồng xuôi về hạ lưu thì dòng sông ấy đã lóng lánh sắc màu huyền thoại, của tâm linh, của cái đẹp, của lịch sử và tình yêu.

Huyền thoại nói chung luôn là ký ức nhân loại để lưu giữ những gì là bản sắc. Truyền thuyết xưa nhất vùng ngã ba này là câu chuyện hai vị thần có tên Thạch Khanh và Thổ Lệnh thi nhau nhảy qua sông. Làm nghề nông nghiệp gắn liền với đất đai trồng cấy nên tác giả dân gian để phần thắng thuộc về thần Thổ Lệnh (Thổ nghĩa là đất. Thạch nghĩa là đá), từ đó thần được thờ tại đền Bạch Hạc.

Huyền thoại gần với sự thật hơn thì đó là nơi hợp lưu của sông Hồng, sông Đà, sông Lô là vùng đất thiêng phát tích cội nguồn các dân tộc Việt, nơi đất Tổ vua Hùng. Từ mẫu cổ này sinh ra nhiều huyền thoại khác còn giữ lại đến nay trong đó có tục lấy nước thiêng. Phải đúng 12 giờ đêm lúc vũ trụ giao hòa, phải là người đức độ, chăm chỉ chèo thuyền ra giữa ngã ba sông lấy nước. Đó không còn là nước mà là "lộc" của tổ tiên, linh khí của trời đất thiên nhiên... Đó là chuyện tâm linh, còn trong thực tế thì dòng sông đem lại may mắn cho con người bằng đặc sản cá, trong đó có "cá tiến vua" rất quý hiếm, như các loài cá anh vũ, dầm xanh, lăng chấm...

Ngược dòng Lô từ vùng Ngã ba Hạc đến Tuyên Quang thì là cả một không gian văn hóa về Mẫu Thoải. Kể rằng Kinh Dương Vương đem lòng yêu mến và lấy con gái của Long Vương làm vợ rồi sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân, Thủy tổ của bộ tộc Lạc Việt. Về sau dân gian tôn người Mẹ của Lạc Long Quân là Mẫu Thoải (tức Mẹ Nước) để ghi nhận công lao to lớn của Bà không chỉ sinh ra vị Vua đầu tiên mà còn giúp dân làm ăn, chống giặc giã, thú dữ... Dọc lưu vực sông hiện còn cả một hệ thống ban thờ Mẫu trong các đền, chùa từ Việt Trì, Đoan Hùng, Thanh Ba, Hạ Hòa,…cho đến Tuyên Quang.

Sông Lô - Một dòng huyền thoại! -0
Sông Lô 

Huyền thoại nào cũng có điểm tựa, có gốc là sự thật. Cái gốc ấy, điểm tựa ấy càng vững chắc thì huyền thoại càng bay cao bay xa. Theo lẽ tự nhiên, dòng sông Lô huyền thoại được chảy từ dòng sông Lô hiện thực. Một dòng sông trong vắt của ca dao: "Sông Lô một dải trong ngần/ Thảnh thơi ta rũ bụi trần cũng nên". Cảnh đẹp trữ tình và thơ mộng là cảm hứng cho bài phú nổi tiếng "Ngã Ba Hạc phú" của cụ Nguyễn Bá Lân (1701-1785) thời vua Lê Hiển Tông. Bài phú nói thay người xưa cảm nhận về cái đẹp tự nhiên của dòng sông quê hương: "Xinh thay ngã ba Hạc/ Lạ thay ngã ba Hạc/ Trên chia ba ngác/ Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp/ Dòng biếc lẫn dòng đào".

Đến thời hiện đại hình như dòng sông có cá tính hơn: "Việt Bắc có con sông Lô/ Mùa mưa ngập bến, mùa khô cạn dòng" ("Ca dao"). Cá tính không chỉ là phẩm chất của chủ thể sáng tạo mà còn cần ở cả đối tượng thẩm mỹ. Nhờ vậy chăng mà sông Lô đi vào nhạc Văn Cao không giống với bất kỳ một dòng sông nào khác: "Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u/ Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu..." (Trường ca sông Lô). Sông Lô trở thành huyền thoại gắn liền với chiến dịch Sông Lô lịch sử (Thu Đông 1948) quân và dân ta chôn vùi hàng ngàn xác giặc, đốt cháy nhiều tàu chiến, bẻ gãy ý đồ tấn công lên căn cứ địa Việt Bắc của quân xâm lược Pháp.

Bài hát "Lô giang" của Lương Ngọc Trác vượt qua sự kể hay miêu tả để vươn tới sự khái quát cao về hình tượng, chỉ qua một câu hát "Lũ Tây kinh hoàng trốn xuống đáy sông làm ngầu nước xanh". Lúc này nhạc cũng là thơ với sự cô đọng hàm súc, giàu nhạc tính, diễn tả nhiều ý nhất trong lượng ngôn từ ít nhất, ngoài diễn tả sự thua trận thảm hại, còn nói về sự hèn nhát, khiếp nhược của kẻ thù. Nói về cái chết và đổ máu mà không hề có ngôn từ về máu đổ và cái chết; nói về hiện tại mà đưa người đọc liên tưởng về quá khứ, "làm ngầu nước xanh" tức hiện tại thì nước đục, thậm chí nước đỏ (vì máu), còn trước đó thì "nước xanh"...

Sông Lô - Một dòng huyền thoại! -0
Đồi chè bên dòng Lô!

Giặc tan, dòng sông lại thao thiết chảy ngợi ca hòa bình, niềm vui và cái đẹp. "Trường ca sông Lô" trở thành nhạc phẩm bất hủ của một tài năng lớn Văn Cao nhờ nó đi vào lòng người để nói lên những gì tha thiết khát khao nhất của con người yêu con người và yêu hòa bình, xứ sở: "Trên dòng sông trở về đoàn người, reo mừng vui trên sóng nước biếc/ Dân hân hoan nghe sóng réo vi vu/ Xa xa đường ngập người bao gió ngát vi vu hiền hòa...".

Người vui, đời vui, trời vui, dĩ nhiên sông và rừng cũng vui, cũng hát và cười. Hình ảnh khỏe khoắn, nhịp điệu đi nhanh, mạnh, hồ hởi kết hợp với điệp khúc: "Vui hát ca hòa vui hát ca" láy đi láy lại tạo cho bài hát như một tổng phổ về niềm vui của sự đổi đời: "Vui hát ca hòa vui hát ca dân vui nắng như chim Xuân thấy mùa/ Vui hát ca hòa vui hát ca hòa những lưới mắc, ta vui khoang cá đầy/ Vui hát ca hòa vui hát ca hòa với ánh sáng ta đang xây đời mới...".

Bài hát "Tiếng hát trên sông Lô" của Phạm Duy cũng là tiếng hát về niềm vui hòa bình theo một phong cách đối lập triệt để không thời gian: "Trên nước sông Lô, thuyền ơi, ta hát say sưa/ Quân cướp đi xa, về đây ta sống chan hòa/ Sông nước hôm qua còn reo như gió như mưa/ Sông nước hôm nay lại trôi êm ái như xưa...". Nhịp thơ nhẹ nhàng luyến láy trôi giữa hai bờ xưa nay của dòng huyền thoại rồi thao thiết hướng dòng về phía biển niềm tin, hy vọng và "chan hòa" hạnh phúc!

Hòa bình trở về. Tàu của người Pháp xâm lược bị vùi sâu xuống đáy sông. Dòng Lô trở thành huyền thoại về cái đẹp và sự giàu có, trù phú, thịnh vượng của đất nước. Lời thơ chứa chan hy vọng chắp cánh để hình tượng Tổ quốc bay lên: "Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi/ Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt/ Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát/ Chuyến phà dào dạt, bến nước Bình Ca" (Tố Hữu - "Ta đi tới"). Do đặc trưng địa hình nên trên mặt sông Lô thường có hình tượng con đò gắn nối hai bờ. Năm 1957, thi sĩ Trần Dần trong "Bài thơ Việt Bắc" đã để lại một hình tượng con đò ngơ ngác trong sự thơ mộng của đất trời Việt Bắc: "Đây!/ Việt Bắc!/ Sông Lô/ nước xanh/ tròng trành mảnh nguyệt/ Bình Ca/ sương xuống/ lạc con đò!". Ai quá giang sông Lô bằng con đò đêm cuối năm mới thấy hình ảnh "tròng trành mảnh nguyệt" thi vị vô cùng!

Hầu như những dòng sông lớn trên thế giới đều lưu giữ trong nó những truyền thuyết về tình yêu. Chắc hẳn có lý do là giữa hình tượng sông và tình yêu có những liên tưởng thẩm mỹ gần gũi như cùng đầy sức sống mãnh liệt cũng đầy sự bí mật; cuồng nhiệt, nồng nàn; hy sinh, vị tha và đợi chờ... Những điều ấy luôn được biểu hiện sinh động trong những loại hình nghệ thuật.

Với sông Lô thời hiện đại lại gắn liền với huyền thoại về tình yêu cùng những cung bậc đợi chờ khắc khoải trong bài hát "Sông Lô chiều cuối năm" của Minh Quang: "Sông Lô chiều cuối năm/ bất chợt gặp câu hát từ bến sông xưa vọng lại...". Thời điểm buổi chiều, lại cuối năm càng gợi lên sự xao xuyến, bâng khuâng về gặp gỡ đoàn tụ gia đình, về hạnh phúc, nhất là với những người lữ thứ xa quê. Trong hòan cảnh ấy người nhạc sĩ tài hoa "bất chợt gặp câu thơ ai bỏ quên giữa dòng", câu thơ nói về mối tình trắc trở giữa một người con gái và một người lính. Lời hát da diết, khắc khoải rồi nấc lên trong nghẹn ngào...

Sắp Tết người ta tìm về gia đình "ai tìm về bên ai", còn "ta tìm về bên em"... Họ không gặp nhau, "sao người con gái ấy nơi đâu, để lại bến sông xưa bâng khuâng một con đò". Hoa đào của tình yêu và đoàn tụ vẫn cứ nở đỏ trong không gian chiều như nâng đỡ nỗi bâng khuâng ấy thành một lý tưởng thẩm mỹ đẹp, tuy buồn và đầy thổn thức nhưng không nguôi hy vọng. Không còn là nỗi bâng khuâng của riêng nhạc sĩ đa cảm mà là tâm trạng chung của những tâm hồn đồng điệu!

Huyền thoại tình yêu ấy sẽ sống mãi vì đã hòa nhập vào đất nước, đã hy sinh vì hòa bình của thiên nhiên xứ sở, cho những dòng sông hiền hòa cần mẫn mang phù sa về đồng bằng mở rộng thêm đất đai tiên tổ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).