Say mê tìm vẻ đẹp văn chương

Khi còn là giáo viên Trường THPT Chuyên Hùng Vương - Phú Thọ, Đỗ Nguyên Thương được các thế hệ học sinh yêu quý bởi tính cách dịu dàng, nhuần nhị, đặc biệt là bởi những bài giảng văn lôi cuốn, hấp dẫn. Chỉ mấy năm ở trường chuyên, chị có tới 9 học sinh giỏi đoạt giải Văn quốc gia.

Vào thời điểm đó, có thể xem là một “thương hiệu” trong nghề. Cùng với việc giảng dạy trên lớp, “cầm” đội tuyển, Đỗ Nguyên Thương cũng sớm bén duyên với phê bình văn học. Công việc yêu thích của chị là viết những bài bình luận, phân tích tác phẩm văn chương trong trường phổ thông.

Rời trường chuyên, Đỗ Nguyên Thương về Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ làm chuyên viên phụ trách môn Văn, rồi làm Chánh Thanh tra Sở. Công việc hành chính, dầu có ít nhiều làm đứt đoạn nhưng chị vẫn giữ được thói quen đọc và viết. Gần đây, khi hoàn thành nhiệm vụ của một công chức, chị toàn tâm toàn trí vào công tác văn học nghệ thuật.

Đến nay, chị đã xuất bản 2 tập sách phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương 1” (Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Thọ, 2005; tái bản 2006) và “Đi tìm vẻ đẹp văn chương 2” (NXB Hội Nhà văn, 2022), tập thơ “Cảm ơn cuộc đời” (NXB Hội Nhà văn, 2020). Đỗ Nguyên Thương cũng là đồng tác giả của “Tuyển tập lí luận phê bình và văn nghệ dân gian” và khá nhiều sách tham khảo cho giáo viên Văn THCS và THPT. Cuốn “Đi tìm vẻ đẹp văn chương 2” của chị nhận giải A của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Thọ năm 2022.

ảnh tác giả.jpg -1
Tác giả Đỗ Nguyên Thương.

“Đi tìm vẻ đẹp văn chương 3” (NXB Hội Nhà văn, 2024) của Đỗ Nguyên Thương gồm 34 bài, tuy khác nhau về dung lượng, cách tiếp cận song đều tập trung bút lực vào một chủ đề chung. Là người phụ trách Chi hội Lý luận phê bình của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh, Đỗ Nguyên Thương có dịp tiếp xúc, cọ xát với những vấn đề mang tính thời sự của lí luận phê bình văn học hiện nay. Không phải ngẫu nhiên, mở đầu tập sách, tác giả chạy đà bằng việc điểm danh “câu chuyện phê bình” qua những thu lượm của bản thân về công tác phê bình trong tâm thế của một người viết say nghề và trách nhiệm: “Về việc nâng cao chất lượng công tác lý luận, phê bình văn học nghệ thuật. Bàn về chất văn trong bài phê bình văn học. Hiểu thế nào về một bài phê bình hay...”.

Coi trọng lí luận, xem lí luận là nền tảng của phê bình văn học và dạy học văn, song Đỗ Nguyên Thương không chủ ý bàn về lí luận, mà tập trung vào công việc chính của mình, cũng là trọng tâm của cuốn sách: truy tìm những vẻ đẹp văn chương. Đọc tiểu luận, phê bình của Đỗ Nguyên Thương, thấy tác giả quan tâm đến các chủ đề khá phong phú, song chủ yếu xoay quanh “câu chuyện tâm thức”: giải mã, khám phá các bình diện tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm văn chương (chi tiết, chủ đề, tư tưởng, ngôn ngữ, giọng điệu, tín hiệu thẩm mỹ…). Trong địa hạt văn học nhà trường có lẽ là thế mạnh của mình, Đỗ Nguyên Thương tìm kiếm cái mới ngay trong những tác phẩm vốn đã được định hình giá trị từ lâu trong lòng bạn đọc.

Thực tiễn cho thấy, việc đọc để đào sâu, tìm kiếm những nét đẹp còn bị “bỏ sót” đối với các tác phẩm quen thuộc luôn có một sức hấp dẫn lớn và ý nghĩa thực tiễn cao. Loạt bài “Nam Cao với bi kịch của người trí thức nghèo qua tác phẩm “Đời thừa”, “Chênh vênh say tỉnh - chênh vênh phận người” (đọc tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao), “Sức hấp dẫn của bài thơ “Ông đồ” (nhân đọc bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên), “Vai trò của chi tiết trong truyện ngắn, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” (Đọc tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân), “Về vai trò mở đường của Nguyễn Minh Châu đối với việc đổi mới văn xuôi Việt Nam sau năm 1975", “Sóng” của Xuân Quỳnh - những cung bậc tình yêu”… là những minh chứng tiêu biểu cho cách thẩm bình của Đỗ Nguyên Thương, cũng là loạt bài có nhiều giá trị tìm tòi nhất trong tập sách.

Có thể nhận thấy, đối tượng phê bình của Đỗ Nguyên Thương khá đa dạng. Sau loạt bài về văn học nhà trường, gần đây tác giả quan tâm nhiều hơn đến các hiện tượng văn chương đương đại, chủ yếu là của các đồng nghiệp và những bạn văn quen biết. Tiêu biểu trong số đó, chẳng hạn như: “Đôi nét về nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương”, “Về tiểu thuyết “Keo đỏ” của tác giả Vũ Quốc Khánh”, “Thơ của người thầy đã từng là bộ đội Trường Sơn” (về thơ Đoàn Hải Hưng), “Sức hấp dẫn của bài thơ song ngữ Tày - Việt “Ăn còn - Quả còn” của Dương Khâu Luông”, “Thơ 1-2-3 của Phan Hoàng, đôi điều cảm nhận”, “Về tập thơ 1-2-3 "Lối sen sương" của Vũ Thanh Thủy”, “Đọc thơ Nguyễn Hưng Hải”…

Sợi chỉ khiến phê bình của Đỗ Nguyên Thương luôn vững chắc là lí luận. Không phải ngẫu nhiên, người viết luôn có ý thức trang bị cho mình một nền tảng lí luận chắc chắn, chí ít là trong lĩnh vực, vấn đề mình quan tâm. Góc nhìn lý thuyết của Đỗ Nguyên Thương không hoàn toàn mới, mà chủ yếu là các lí thuyết cổ điển, song với khả năng “đọc sâu” và năng lực thực hành phân tích văn bản thấu đáo, kĩ lưỡng của tác giả, các bài viết vẫn có ý nghĩa gợi mở và giá trị thực tiễn cao.

Đỗ Nguyên Thương dường như phù hợp với lối bình điểm, đi vào một vấn đề, chi tiết, ít khi đặt ra những vấn đề mang tính khái quát của đời sống văn học. Các bài viết của chị có sức hấp dẫn bởi năng lực thẩm bình văn chương tinh tế. Đây có lẽ là thế mạnh nổi trội nhất của ngòi bút phê bình Nguyên Thương. Trên cơ sở đó, tác giả có nhiều tìm tòi phát hiện những tín hiệu thẩm mỹ phong phú của văn bản.

Chẳng hạn, khi phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, chị khẳng định: “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ hay, đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật, và góp phần làm nên giá trị trường tồn của bài thơ chính là giọng điệu. Giọng điệu khắc khoải, nhớ mong, khát khao cháy bỏng; đó cũng chính là tình người, tình đời tha thiết của thi sĩ với quê hương, với con người, với cuộc sống” (Giọng điệu trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử).

Đỗ Nguyên Thương cũng chứng minh thuyết phục sức hấp dẫn của “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là bởi “nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, nghệ thuật dựng cảnh, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện và bút pháp tương phản trong việc khắc họa hình tượng” (Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có).

Viết về “Chí Phèo” của Nam Cao, tác giả cho rằng: “Tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nam Cao là nhà văn đã để nhân vật của mình đi chênh vênh trên ranh giới của loài người và loài vật, giữa say và tỉnh, giữa ý thức và vô thức. Và điều quan trọng là cuộc đời Chí Phèo chính là hành trình đi tìm nhân cách - một vấn đề có ý nghĩa muôn thuở mà Nam Cao đặt ra thông qua hình tượng nhân vật Chí Phèo” (Chênh vênh say tỉnh - chênh vênh phận người).

ảnh sách.jpg -0
Bìa một tác phẩm của Đỗ Nguyên Thương.

Đỗ Nguyên Thương dụng công chứng minh vai trò của Nguyễn Minh Châu với tư cách người mở đường cho đổi mới văn học trên các bình diện quan điểm nghệ thuật và thực tiễn sáng tác (Về vai trò mở đường của Nguyễn Minh Châu đối với việc đổi mới văn xuôi Việt Nam sau năm 1975).

Phê bình tác giả, đặc biệt là các tác giả đương đại, Đỗ Nguyên Thương không dành thời gian vào tiểu sử, mà tập trung phân tích văn bản để kiếm tìm hình tượng tác giả. Có lẽ, trong công việc thường ngày của người làm công tác Hội, chị cố gắng loại trừ những quan hệ thân sơ trong khi đọc, để kiếm tìm một tiếng nói khách quan.

Phân tích văn bản văn chương, Đỗ Nguyên Thương chủ tâm tìm tòi cả hai bình diện tư tưởng và thi pháp nghệ thuật. Ở mỗi tác giả, tác phẩm khác nhau lại có sự đậm nhạt ở mỗi chiều cạnh khác nhau. Nhận xét nội dung thơ 1-2-3 của Phan Hoàng, chị cho  rằng tác giả đã “đi từ hướng ngoại dần vào hướng nội. Đây là một cố gắng thể nghiệm mới trên hành trình sáng tạo của nhà thơ Phan Hoàng. Với tôi, khi đọc anh, thấy không còn là thử nghiệm, mà là đã đủ độ chín cho người tiên phong lối viết này tại Việt Nam” (Thơ 1-2-3 của Phan Hoàng, đôi điều cảm nhận).

Đỗ Nguyên Thương cho rằng tiểu thuyết “Keo đỏ” của Vũ Quốc Khánh hấp dẫn người đọc trước hết ở nội dung: “câu chuyện tình yêu trong chiến tranh, câu chuyện số phận “sắp đặt” cho cuộc đời con người những thăng trầm, may rủi… cứ như những thước phim quay chậm dần dần hiện ra trước mắt mọi người”. Về nghệ thuật, "Keo đỏ" hấp dẫn người đọc bởi “giọng văn và ngôn ngữ giản dị, không cầu kỳ, không hàn lâm. Có những câu văn đạt tới độ “chất thơ trong tiểu thuyết” (Về tiểu thuyết “Keo đỏ” của tác giả Vũ Quốc Khánh)…

Có thể thấy, phê bình của Đỗ Nguyên Thương trên một ý nghĩa nào đó gần với lối phê bình tri âm. Trong trường hợp nào, chị cũng cố gắng tìm ra sự đồng điệu để khai thác, khám phá. Thế mạnh của Nguyên Thương là sự tinh tế và khả năng phát hiện vấn đề. Mặc dầu không đặt ra những vấn đề liên quan đến trào lưu, khuynh hướng vận động của văn học hiện nay, song phê bình văn học của Đỗ Nguyễn Thương đã trổ ra những ô cửa khác nhau để từ đó giúp bạn đọc đi vào thế giới nghệ thuật văn chương.

Có thể xem cuốn sách của Đỗ Nguyên Thương là một tài liệu hữu ích đối với bạn yêu văn, đặc biệt là đối với các nhà giáo, các bạn học sinh trong nhà trường phổ thông. Đỗ Nguyên Thương là một điểm sáng của lý luận phê bình ở các hội văn học nghệ thuật địa phương hiện nay. Từ nhà giáo giỏi chuyên môn đến người làm công tác phê bình văn học chuyên sâu, ở vị trí nào, chị cũng giữ được ngọn lửa đam mê nghiên cứu, phê bình và nhiệt huyết trao truyền tình yêu văn học. Tôi gọi Đỗ Nguyên Thương là người say mê đi tìm vẻ đẹp trong những áng văn chương là như thế.

Phùng Gia Thế

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).