Sáng mãi những ngọn đèn giữa trùng khơi

Đó chính là những ngọn hải đăng uy nghi kiêu hãnh, như những pháo đài bất khả xâm phạm soi đường cho mọi hải trình. Để hoàn thành sứ mệnh “soi đèn” giữa trùng khơi đã có biết bao con người từng ngày bám trụ, bất chấp sự khắc nghiệt của thời tiết cho đến bom đạn của kẻ thù…

Từ hải đăng Long Châu

Tôi đã đôi lần có dịp đến những đảo tiền tiêu của Tổ quốc, từ khu vực phía Bắc cho đến miền Trung, rồi vào đến phía Nam, mỗi lần đi là một lần cảm nhận và trải nghiệm. Lần này được theo con tàu An Bang của Xí nghiệp Bảo đảm hàng hải làm nhiệm vụ tiếp tế cho các trạm hải đăng trên biển, tôi vẫn không khỏi bồi hồi, háo hức… 

Đi giữa hai hàng phao luồng ra vào cảng Hải Phòng, tàu thuyền xuôi ngược như mắc cửi, Giám đốc Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Đông Bắc Bộ Trịnh Minh Hải cho biết, các phương tiện lưu thông đảm bảo an toàn chính là nhờ hàng phao luồng với hàng trăm quả phao rải suốt từ ngoài phao số 0 vào.

Cùng với đó đơn vị còn có nhiệm vụ vận hành hệ thống đèn biển và báo hiệu luồng tàu biển trong phạm vi từ tỉnh Quảng Ninh đến hết tỉnh Thái Bình, bao gồm 10 đèn biển và 7 tuyến luồng tàu biển quốc gia với tổng chiều dài hơn 150km.

Phóng viên Báo CAND tác nghiệp cùng với công nhân Trạm Hải đăng Long Châu.
Phóng viên Báo CAND tác nghiệp cùng với công nhân Trạm Hải đăng Long Châu.

Sau khoảng 2 giờ đồng hồ con tàu qua vùng biển thuộc quần đảo Cát Bà, rồi tiếp tục đi thêm 2 giờ đồng hồ nữa qua phao số 0, rồi mới đến đảo Long Châu. Từ phía rất xa ngoài biển mọi người đều có thể nhìn rõ một ngọn hải đăng cao sừng sững như cây bút khổng lổ viết lên trời xanh. Tuy nhiên để lên được đảo, chúng tôi phải lần nữa dùng ca nô chuyển tải vào bờ.

Đưa chúng tôi vượt qua con dốc dài hơn 1 km, Trạm trưởng Nguyễn Mạnh Hùng kể về lịch sử của hải đăng Long Châu là do người Pháp xây dựng từ năm 1894, cao 109,5 mét so với mực nước biển, theo kiến trúc hình vòm độc đáo với những ô kính cường lực bao quanh. 

Ở đúng tâm của căn phòng là tổ hợp các chóa đèn phẳng, to như tấm phản với chi chít những bóng đèn nhỏ, được gọi tim đèn. Mỗi khi có bão, áp thấp nhiệt đới hoặc gió mùa Đông Bắc đột ngột tràn về thì đảo Cát Bà là một trong những nơi tìm về neo đậu trú tránh thiên tai an toàn của hàng ngàn tàu. 

Và trong đêm tối mịt mùng của biển cả, dưới màn sương mưa giăng mắc, có một con “mắt thần” khổng lồ đã miệt mài soi đường chỉ lối cho từng con tàu tìm về trú ngụ suốt bao năm qua.

Kể về cuộc sống trên đảo Long Châu, Trạm trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng cho biết thêm, trên diện tích 1 km vuông, xung quanh toàn đá tai mèo xám xịt nhọn hoắt, chơ vơ giữa bốn bề là biển. Dân số của đảo có khoảng mươi người, toàn đàn ông, chia làm hai nhóm có nhiệm vụ độc lập là điều hành ngọn hải đăng Long Châu và kiểm soát biên phòng. Nước ngọt cũng trở nên khan thiếu nghiêm trọng, nên chẳng cây cối nào mọc nổi. Họa hoằn lắm có một vài cây cỏ cựa mình len đá trồi lên. Vào mùa khô cứ mỗi ngày, anh em lại phải thay nhau cuốc bộ xuống tận chân núi, bến tàu để mua lại nước của bà con dân chài. Nước quý tới mức anh em phải tái sử dụng nhiều lần, cuối cùng mới dám mang ra tưới rau.

Thế nhưng từ bao đời nay, ở nơi cằn khô, khắc nghiệt này lại có những con người vẫn từng ngày bám trụ để hoàn thành sứ mệnh “soi đèn biển”. “Ngay cả bom đạn kẻ thù còn chưa làm lung lạc được ý chí giữ đảo, bảo vệ đèn thần của người lính đảo, nói chi đến thiên nhiên khắc nghiệt” - anh Hùng tự hào nói. Cũng theo anh Hùng kể lại, hải đăng Long Châu đã từng là địa chỉ để máy bay Mỹ trút xuống hàng ngàn tấn bom đạn nhằm phá hủy.

Bởi trong thời gian chiến tranh, hải đăng Long Châu và hải đăng Hòn Dáu (Đồ Sơn) đóng vai trò tối quan trọng khi dẫn tuyến cho hàng loạt chuyến tàu không số vận tải vũ khí và hàng hóa vào tiền tuyến miền Nam, là điểm khởi đầu của con đường Hồ Chí Minh trên biển. Biểu tượng của ý chí quật cường ấy là người công nhân Cao Văn Viên. Trong trận bắn phá của kẻ thù năm 1967, khi thấy đèn bị bắn hỏng, anh Viên đã xung phong trèo lên đỉnh tháp để sửa chữa thì bị trúng đạn và mãi mãi ra đi ở tuổi 20.

Đến mắt thần giữa Vịnh Bắc Bộ

Từ Long Châu chúng tôi lại lên tàu tiếp tục hành trình đến đảo Bạch Long Vỹ. Quãng đường cũng chỉ đi hết khoảng hơn 4 giờ đồng nữa nhưng vất vả hơn lúc trước rất nhiều. Dù là trời yên, biển lặng nhưng vẫn có những con sóng cao hàng mét đẩy con tàu trọng tải nghìn tấn lên cao rồi lại hạ xuống thấp.

Hải đăng Bạch Long Vỹ sừng sững cao hơn 100 mét so với mực nước biển nổi lên giữa Vịnh Bắc Bộ. Giám đốc Trịnh Minh Hải tự hào khoe, đây là một trong những ngọn đèn cao nhất của ngành Bảo đảm hàng hải, được xây dựng từ năm 1995 và ánh sáng đèn tín hiệu có thể quét xa với bán kính 26 hải lý. Đêm xuống từ trên đỉnh cao nhất của ngọn hải đăng nhìn xuống thấy toàn bộ huyện đảo Bạch Long Vỹ bừng sáng bởi ánh điện từ trong nhà cho đến các tuyến đường.

Cũng từ nơi “mắt biển” chiếu sáng, nhìn xung quanh thấy sao giăng giăng lung linh trên trời, sao đung đưa giữa mênh mông biển. Một bức tranh kỳ vĩ của biển cả được tô điểm bằng ánh đèn của tàu thuyền nhấp nháy những đốm sáng xanh đỏ…

Cả Trạm Hải đăng Bạch Long Vỹ có 8 anh em, chia làm 8 ca, làm việc suốt 24/24 giờ. Ban ngày dùng âm thanh bằng còi điện, tầm hiệu lực 3 hải lý. Ban đêm dùng ánh sáng, trong đó đèn chính thấu kính quay tầm hiệu lực phát sáng 24 hải lý, còn đèn phụ phát sáng 15 hải lý… Câu chuyện giữa chúng tôi lắng lại bởi những tâm sự riêng của mỗi con người gác đèn nơi chân sóng. Trạm phó Phạm Văn Đức tâm sự, những năm tháng đứng gác trên biển, thời gian ở trạm đèn còn nhiều hơn gấp nghìn lần thời gian các anh ở bên vợ, con.

“Cái nghề của bọn tôi nó thế, thành thử trước khi cưới vợ phải làm công tác tư tưởng để vợ hết sức chia sẻ, yên tâm ở nhà, thay mình gánh vác mọi chuyện” – công nhân Vũ Văn An tâm sự và cho biết thêm nhiều khi vợ điện thoại réo liên tục mà chẳng thể về, xót xa và thương lắm... 

Cũng theo những nhân viên nhà đèn cho biết, cực nhất vào những mùa biển động, nhớ nhất là năm kia, tầm tháng 9, 10, gió Nam lên cấp 10, 11, giật cấp 12, nửa tháng trời không tàu thuyền nào ra đảo được. Anh em trên trạm luôn tự tăng gia sản xuất, mùa nào thức nấy, trồng đủ loại rau xanh như cải, rền, bí, mướp...

Khó khăn là vậy nhưng tất cả những người gác đèn đều khẳng định không ai muốn rời xa. Gắn liền với những ngọn hải đăng là những con người dám nhận cuộc sống cô độc nơi đèo heo hút gió, nơi đảo xa. Những con người “sáng lau sương”, “chiều lau bụi”, luôn luôn xác định trong tâm trí của mình “trạm là nhà, biển đảo là quê hương” và “trái tim còn đập, đèn còn chớp sáng”.

Văn Huy

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).