Quà quê Ninh Giang

Là người nghiên cứu sử học nên anh Phạm Đợi, một người bạn cùng khóa nhưng khác khoa với tôi thuở nào tại Đại học Tổng hợp Hà Nội hiểu hơn ai hết về mảnh đất Ninh Giang (Hải Dương) nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Theo lời anh Đợi kể, vào thời thời Lý-Trần, huyện Ninh Giang ngày nay thuộc phủ Hạ Hồng. Thế rồi, sang đến thời thuộc Minh mảnh đất ấy thuộc phủ Tân An. Nhưng đến thời nhà Lê lại đổi thành phủ Hạ Hồng.

Trải qua rất nhiều đổi thay, nhập vào tách ra, cuối cùng vào năm 1996, huyện Ninh Giang chính thức được tái lập. Ninh Giang là vùng đất "địa linh nhân kiệt" có tiếng thành Đông, tên gọi tỉnh Hải Dương một thuở hào hùng. Đó không chỉ là nơi sinh ra ba vị vua họ Khúc mà còn có ngôi đền thờ Tranh linh thiêng. Rồi thì ngôi đền thờ Khúc Thừa Dụ uy nghiêm. 

Đất quê nhưng văn hiến Ninh Giang không chỉ sinh ra những anh hùng hào kiệt của dân tộc mà còn tạo dấu ấn với phường rối Hồng Phong có tên có tuổi. Miền đất Ninh Giang còn có món bánh gai nổi tiếng, thứ sản vật giản dị mang hương vị đồng quê thôn dã gói ghém tấm lòng thơm thảo của người dân Ninh Giang.

Tấm bánh của những huyền tích

Mở những trang ghi chép về nguồn gốc ra đời của nghề làm bánh gai Ninh Giang, anh Phạm Đợi cho hay, có rất nhiều sự tích liên quan tới nó. Chẳng hạn như, có chuyện rằng: "Ngày xửa… ngày xưa" vào một năm đói kém, thất bát nọ, vì không thể bói đâu ra nửa hạt gạo để thổi cơm, bước đường cùng, vợ chồng người nông dân nghèo nọ đã buộc phải tìm kiếm bới mót những thứ lá dại mọc hoang ven sông Tranh để ăn cầm hơi.

Bánh gai Ninh Giang.
Bánh gai Ninh Giang. 

Trong lúc tìm kiếm cây dại, họ đã phát hiện ra một lại cây lá gai, mang về nấu ăn thay cơm thì thấy dẻo, ngon. Từ đó, họ đã nghĩ ra cách thái thứ lá dại ấy và phơi khô để dành nấu ăn thay cơm. Thế rồi vào năm được mùa, vợ chồng người nông dân nghĩ ra cách trộn lá cây này với bột gạo nếp để làm bánh. Một thứ bánh ăn vừa dẻo, vừa ngon lại thơm. Lúc đầu, bánh được gói trong lá chuối tươi. Sau dần để tạo hương vị đậm đà cho bánh họ đã thay bằng lá chuối khô. Thế là món bánh gai ra đời từ đó.

Lại có chuyện, người làm ra những tấm bánh gai đầu tiên không ai khác mà chính là các ngư dân đánh cá ven sông Tranh. Cũng bởi tại đói kém, những người dân nghèo đã tìm thấy cây gai mọc hoang ở bờ bụi ven sông. Người ta mới hái lá gai mang về độn với gạo rồi đem thổi thành cơm để chống đói. Và rồi lâu dần họ mới  nghĩ ra cách trộn lá cây gai với bột gạo làm nên những tấm bánh, gọi là bánh gai. Có điều, những tấm bánh gai đầu tiên của hơn 700 năm trước ấy cái nào cái nấy cứ tròn trĩnh y như những quả chanh chứ không có lá (chuối) bọc ngoài gọi là lá áo như ngày nay.

Quà quê  - "thương hiệu" một vùng đất

Chiều hè ấy, anh Phạm Đợi dẫn tôi tới thăm gia đình nghệ nhân Lê Thị Tuyết tại thị trấn Ninh Giang. Mời khách tấm bánh gai còn nóng hôi hổi, bà Tuyết vui vẻ bộc bạch: Gia đình mình có truyền thống làm bánh gai, tính tới nay đã qua bốn đời rồi chứ có ít đâu. Thuở còn "bé hạt mít", bà Tuyết thường được bà và mẹ truyền dạy cho cách làm bánh gai. Tới tuổi trưởng thành, bà Tuyết "ra ở riêng" cùng chồng. Vợ chồng bà Tuyết bảo nhau xây dựng cơ sở chuyên làm bánh gai để giữ nghiệp tổ tiên.

Chả khác nào những món bánh truyền thống của cư dân nước Việt mình, bánh gai Ninh Giang nào đâu có cầu kỳ về hình thức. Nhưng nó lại hoàn toàn không thể đơn giản về cách thức chế biến. "Muốn có được tấm bánh gai chuẩn chỉnh chất lượng "thương hiệu" Ninh Giang phải tốn mồ hôi lắm đấy nhé! - Bà Tuyết phấn chấn khi kể về nghề làm bánh - Đơn giản là bởi phải trải qua rất nhiều công đoạn. Mà công đoạn nào cũng quan trọng cả đấy. Quá trình ấy dẫu không phức tạp nhưng lại đòi hỏi sự cầu kỳ tỷ mẩn nhọc công ra phết!".

Việc đầu tiên của quá trình làm nên chiếc bánh gai là công đoạn chọn nguyên liệu. Cứ như bà Tuyết kể, công đoạn chọn nguyên liệu làm bánh gai là việc quan trọng bậc nhất. Mà đã là bánh gai thì cái thứ đầu tiên người ta nhất định phải có đó chính là những chiếc lá gai. Theo như bà Tuyết, gì chứ lá gai nhất định cứ phải là loại lá nếp, có thế tấm bánh mới dẻo, mới thơm  hương vị đặc trưng của thứ lá thực vật dân dã. 

Lá gai hái về đem phơi cho khô. Việc tiếp theo, tước bỏ hết gân trên từng chiếc lá gai khô ấy rồi đem chúng thái nhỏ, rửa cho kỳ sạch. Sau đó cho lá vào nồi đem bắc lên bếp rồi nổi lửa đun. Khi lá gai đã được ninh thật nhừ, người ta mới đổ chúng ra rổ mà rửa cho thật sạch. Chờ cho đến khi lá ráo nước mới đem trộn với muối theo tỷ lệ nhất định (tùy theo bí quyết của mỗi nghệ nhân) vào và ủ với đường kính trong thời gian từ hai tới ba ngày. Khi lá ủ đã ngấu muối, người làm bánh lấy chúng ra cho vào cối mà giã (bây giờ người ta cho vào máy xay) thật nhừ. Tiếp đến đem lọc lấy thứ bột mịn để trộn với bột nếp.

Những nguyên liệu chính làm nên tấm bánh gai mang thương hiệu Ninh Giang.
Những nguyên liệu chính làm nên tấm bánh gai mang thương hiệu Ninh Giang.

Nói đến thứ bột nếp "góp phần" làm nên tấm bánh gai Ninh Giang, bà Tuyết cho rằng, cả tỉnh Hải Dương chỉ có mỗi món gạo nếp cái hoa vàng của bà con huyện Kinh Môn mới "có đủ tư cách". Hỏi lý do tại sao lại phải cầu kỳ thế, bà Tuyết giải thích rằng: Hạt nếp cái hoa vàng của người Kinh Môn hạt nào hạt nấy trắng tròn; "mười hột như một" đều chằn chặn kích tấc như nhau. Không chỉ có vậy, thứ gạo ấy khi đem xay thành bột thì rất trắng và mịn. Bột đó đem nấu lên dẻo vô cùng, tạo nên một phần cơ bản của tấm bánh gai Ninh Giang.

Còn "cái anh" mật phải là mật mía nguyên thủy, mới đạt tiêu chuẩn. Mật ấy ngọt, không gì sánh bằng. Trước khi đem mật trộn với bột lá gai và bột nếp, người làm bánh gai Ninh Giang cho nó vào nồi đun nóng lên. Việc đó khiến cho mật tan chảy ra, dễ trộn với hai thứ bột kể trên. Tỷ lệ bột lá gai và bột nếp quyết định tới chất lượng của "lớp áo" bánh gai. Và việc đó cũng lại tùy thuộc vào bí quyết của mỗi người nghệ nhân. Khi trộn bột, càng vắt lâu thật lâu, tấm bánh gai thành phẩm sau đó sẽ càng dẻo, càng mềm mại thơm ngon

Riêng về cái khoản nhân bánh, bà Tuyết kể, việc đó cũng lại là một công đoạn vô cùng kỳ công. Mỡ cánh - tức phần mỡ nơi cổ con lợn - được muối với đường sao cho thật khéo. Muối thế nào mà khi thưởng thức món bánh gai Ninh Giang, người ta không có cảm giác ngấy vì mỡ lợn, nhưng lại cảm nhận được độ giòn tan y như mứt bí của miếng mỡ lợn, ấy vậy.

Xưa và nay, vùng đất Ninh Giang thôn dã cũng là một trong những "vương quốc" của loài hoa sen sang trọng quyền quý. Do vậy, người dân Ninh Giang có truyền thống sử dụng thứ hạt sen làm nhân bánh gai. Trong quá trình chế biến hạt sen, cái khéo, cái thần tình của người làm bánh gai Ninh Giang là phải làm cho hạt nào hạt nấy đều phải mềm và không dứt khoát không bị nát. Và nhất định phải giữ cho những hạt sen ấy còn nguyên hương vị nguyên thủy của nó.

Trong thiên hạ, để có được những tấm bánh gai thành phẩm như ý, người ta đem luộc chúng trong một cữ thời gian nhất định. Nhưng người Ninh Giang xưa nay không bao giờ làm như thế cả. Khi đã gói ghém những tấm bánh gai bằng thứ lá chuối khô xong, người Ninh Giang mới bỏ chúng vào nồi mà hấp cách thủy trong thời gian hai giờ đồng hồ cho đến khi bánh dậy mùi thơm đặc trưng là được. 

Có cơ duyên mà được thưởng lãm những tấm bánh gai ấy của bà con Ninh Giang, dẫu có là người khó tính nhất trần đời thì người ta cũng sẽ phải ngất ngâyvới vị ngọt mà thanh;  vị ngậy mà không ngán. Đã thế, miếng bánh  lại dẻo và mịn không thể chê vào đâu được từ vỏ bánh đến mềm xốp của nhân bánh nữa chứ khiến người ta sinh lòng nhớ nhung nó.

Anh Phạm Đợi lại kể rằng: Ngày xưa lâu lắm rồi, người Ninh Giang chỉ làm bánh gai trong những dịp Tết lễ để dâng lên bàn thờ tri ân công đức tổ tiên mà thôi. Nhưng ở cái thời 4.0 này cũng như ngược dòng thời gian về trước một chút, làm bánh gai trở thành sinh kế của  biết bao hộ gia đình nông dân Ninh Giang, với mức thu nhập đều đặn và rất giá trị với đời sống nông thôn. 

Những tấm bánh gai thô mộc mà thơm thảo nghĩa tình phu thê của đôi vợ chồng người nông dân nghèo trong huyền tích xưa nay đã giúp cho  người Ninh Giang có thêm "bát ăn, bát để". Trải qua 700 năm trời, với bao kỳ đoạn vật đổi sao dời, nhưng các thế hệ người dân miền thôn quê Ninh Giang vẫn cứ duy trì và phát triển được nghề truyền thống mà ông bà xưa để lại cho con cháu. Và tấm bánh gai - món quà quê dân dã của họ đã tự tin làm phong phú hơn đời sống văn hóa ẩm thực nước Việt mình, ấy thế!.

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).