Phú – thể loại một đi không trở lại?

Thể Phú rất phát triển trong thời trung đại, đến mức Nhà nước phong kiến đưa vào chương trình thi cử để tuyển chọn nhân tài. Sĩ tử đi thi tối thiểu phải thuộc “thiên thi, bách phú, văn sách ngũ thập” (nghìn bài thơ, trăm bài phú, năm mươi bài văn sách) mới có thể làm được bài.

Mục đích chính của Phú là để ca ngợi hay tỏ chí nên tính khoa trương là đặc trưng thể loại nổi bật. Khoa trương thì không nệ thực, mà phải cách điệu, thậm xưng, bóng bẩy để tạo ra không khí hoặc sang trọng đáng kính hoặc hài hước vui vẻ hay mỉa mai đáng ghét…

Ví như ở hai câu sau: “Vẻ hoa thạch châu thêu, gấm dệt/ Tiếng trùng cầm, ngọc gõ, vàng khua” (Nguyễn Huy Lượng - Tụng Tây hồ phú). Lịch sử nghệ thuật của Phú khởi nguyên ở chốn cung đình, càng về sau càng bắt rễ rồi cắm sâu hơn vào đời sống thế tục. Thể loại đã quy định sáng tạo và thưởng thức Phú phải thật sự tài năng, mà rõ nhất là phải có trí tưởng tượng phong phú, thi tứ, ngôn ngữ dồi dào, học vấn cao sâu…

Phú là cả một thế giới tính từ cực tả để gây ấn tượng về sự vật hiện tượng luôn ở những thái cực đối lập, thường được miêu tả trong trạng thái sống động nhất đối cực với những gì bất biến, nhợt nhạt, tĩnh tại. Cực tả để đẩy vấn đề từ bình thường đến khác lạ, mới mẻ. Do vậy, Phú dễ bị ngộ nhận là thể văn phù phiếm chuyên đẽo câu gọt chữ.

Đua thuyền nơi Ngã ba Hạc.
Đua thuyền nơi Ngã ba Hạc.

Thực ra, do nằm trong khu vực lằn ranh thể loại và kết tinh thế mạnh của thơ và văn xuôi nên Phú là mảnh đất màu mỡ để các nhà thơ thể hiện tài năng (như về nghệ thuật tu từ) và hiểu biết văn hóa (kiến thức cổ xưa như cách dùng điển cố).

 Phú miêu tả có đặc điểm thường hướng về những sự vật, hiện tượng ngộ nghĩnh, mô tả những nét đặc trưng rồi khoa trương chúng lên bằng những nét vẽ tinh tế, bằng nghệ thuật ngôn từ điêu luyện để gợi ra những liên tưởng mới, tạo ra những cách hiểu khác, hóm hỉnh, hài hước. Tiêu biểu là “Phụng thành xuân sắc phú” của Nguyễn Giản Thanh, “Đại Đồng phong cảnh phú” của Nguyễn Hãng, “Ngã Ba Hạc phú” của Nguyễn Bá Lân…

Đây là một thế giới thiên nhiên thật sống động nhờ sự kết hợp các từ láy tượng thanh, tượng hình, các động từ mạnh: “Đùn đùn núi Yên Ngựa, mấy trượng khỏe thế kim thang/ Cuồn cuộn thác Con Voi, chín khúc bền hình, quan tỏa”.

Có chỗ triệt để sử dụng phép liệt kê: “Đủng đỉnh túi thơ bầu rượu, nặng cổ thằng hề/ Dập dìu quần sả, áo nghê, dầu lòng con tý/ Diên đồi mồi, châu châu, ngọc ngọc, nhiều chốn phồn hoa/ Viện thu thiên ỷ ỷ, la la, mười phần phú quý” (Nguyễn Hãng - Đại Đồng phong cảnh phú) tạo ra sự trập trùng hình ảnh vừa quen thuộc gợi về không gian đời nay (túi thơ, bầu rượu, thằng hề, con tý), vừa lạ lẫm nhờ cách dùng từ Hán Việt gợi về không gian xưa cũ xa xôi (diên: tiệc rượu; viện thu thiên: cây đu); với những sắc màu lóng lánh (quần sả: quần có màu biếc như màu lông chim chả; áo nghê: áo nhiều màu sắc như màu cầu vồng; ỷ: vải nhiều màu; la: lụa mỏng). Đoạn này chứng minh tuy thiên về miêu tả nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc mà Phú có thể vươn tới sáng tạo nhiều miền không gian, mỗi không gian lại mang những đặc trưng riêng.

Nguyễn Huy Lượng trong “Tụng Tây Hồ phú” miêu tả bức tranh Tây Hồ trời nước mênh mang: “Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo/ Hình lượn lượn uốn vòng trăng bạc, tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò”. Các động/tính từ láy (rờn rờn, lẻo lẻo, lượn lượn) cùng danh/tính từ láy (nhò nhò: nước hồ Tây trắng xóa, như sông Ngân Hà trên trời rơi xuống những mảnh nhỏ) kết hợp với các động từ mạnh (nhuộm, uốn, nổi lên, rơi xuống), các tính chỉ màu sắc, trạng thái (lam xanh, bạc, sắc, hình) làm tăng lên sự sinh động, tươi tắn của cảnh vật.

Nguyễn Bá Lân trong “Ngã Ba Hạc phú” nổi tiếng cho thấy thể Phú thật sự là mảnh đất để các tài năng thể hiện các thủ pháp ngôn ngữ điêu luyện, tinh tế: “Xinh thay Ngã Ba Hạc/ Lạ thay Ngã Ba Hạc/ Dòng thẳm một dòng, ngả chia đôi ngả/ Ba ngác khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào/ Lênh láng dễ biết nông sâu, nước đen pha nước bạc”.

Ngã Ba Hạc là ngã ba sông, nơi gặp gỡ, giao hòa của sông Hồng, sông Lô, sông Đà. Nước sông Lô xanh, nước sông Hồng đỏ (dòng biếc lẫn dòng đào), nước sông Đà đen (nước đen). Các đối cực hình ảnh: “thẳm/ chia; một dòng/ đôi ngả; rộng/ hẹp”; các đối cực sắc thái: “biếc/ đào; đen/ bạc; nông/ sâu” cho thấy sự vật cứ như đang hiện ra, mở ra xôn xao trước mặt.

Các phép lặp và láy tạo ra cảm giác sự vật cứ như cựa quậy, xô đẩy nhau, biến hóa, động đậy: “Trên xô nguồn, nguồn chảy vẩn vơ/ Dưới ngấn nước, nước xuôi tuồn tuột”. Nhất là các hình ảnh: “ba góc bờ tre văng vẳng, huyệt kim quy chênh hẻm đá gồng ghềnh/ Một chòm bãi cỏ phơi phơi, hang anh vũ thấu lòng sông huếch hoác” được cấu tạo bởi các từ gọi tên, miêu tả sự vật (ba góc bờ tre, huyệt kim quy, một chòm bãi cỏ, hang anh vũ); cách láy tượng thanh, tượng hình (văng vẳng, gồng ghềnh, phơi phơi, huếch hoác); các từ gợi cảm giác về sự vật chênh vênh, bí hiểm (chênh hẻm); xa xôi, vắng vẻ (văng vẳng); gồ ghề, cheo leo, lồi lõm (gồng ghềnh); lở lói, lam nham, trống hoác (huếch hoác).

Tất cả tạo nên bức tranh tả thực mà các hình ảnh cứ hiện lên rõ mồn một, đầy sức sống. Và tất nhiên phải có con người: “Rủ dây dù ông Lã máy cần, trần trã mặc Chử Đồng ngâm nước/ Thuyền ngư phủ trôi dòng, dang nách khum lưng chèo dếch ngược”. Ở đây là người câu (ông Lã Vọng), người tắm, người chèo thuyền, tất cả đều ở trạng thái động nhất, người câu thì “máy cần”, người tắm thì ngâm nước, ông phủ thì “chèo dếch ngược”.

Cảnh Hồ Tây xưa.
Cảnh Hồ Tây xưa.

Đấy là nhìn gần, còn nhìn xa rộng hơn thì: “Trôi trôi dài hơi cốc lặn, mênh mang vây nước ao thành”, nhìn cao hơn thì: “Vênh vênh thẳng cánh cò bay, sẵn nước doành Ngân bến bắc”. Nếu các từ láy ở đoạn trước thường được đặt ở cuối mệnh đề thì ở đây lại được đặt ở vị trí đầu để nhấn mạnh trạng thái sự vật như đang mở ra, xa xôi, mênh mang, bát ngát…

 Phú là thế giới của những từ láy, động từ láy, tính từ láy với láy tượng thanh, láy tượng hình làm cho đối tượng miêu tả thêm sống động, phập phồng, cựa quậy. Một đoạn trong “Tịch cư ninh thể phú”: “Cầm quạt lá phất phơ/ Quẩy túi thơ xốc xếch/ Lẽo đẽo thằng hề mọn, trước ngàn mai lẩn thẩn đứng chờ/ Lểnh khểnh vó lừa gầy, bên rừng trúc dần dà sẽ tếch/ Hem hẻm đường mây lần trước, đứng nhìn non gió thổi đìu hiu/ Phây phẩy sườn núi rũ đầu, ngồi xem ác bóng đà chênh chếch”.

Các từ láy lại được phân phối nằm ở vị trí đầu và cuối câu thơ càng tăng cường thêm sự sống động của các hình ảnh nằm ở giữa câu. Giả sử tước bỏ các từ láy này thì hồn vía sự vật sẽ không còn, sự tinh tế, hóm hỉnh của bút pháp cũng không được thể hiện.

Khi văn xuôi tự sự chưa phát triển, chịu sự quy định của thể loại, mà thơ cũng khó khăn trong việc xây dựng những hình tượng nghịch dị gây cười, nên sứ mệnh này Phú đã gánh vác một cách xuất sắc. Chỉ có trong thể Phú, Tú Xương mới có thể tự trào một cách thoải mái nhất: “Có một thầy/ Dốt chẳng dốt nào/ Chữ hay chữ lỏng/ Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao lâu/ Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng” (Hỏng thi phú). Thậm chí tự hạ mình xuống hàng du côn lưu manh liều lĩnh: “Quần áo rách rưới/ Ăn uống xô bồ/… Râu rậm như chổi/ Đầu to tầy giành/ Cũng lắm phen đi đó đi đây, thất điên bát đảo/ Cũng có lúc chơi liều chơi lĩnh, tứ đốm tam khoanh” (Thầy đồ đi trọ).

Tả chân dung mình mà lại theo nguyên tắc vật hóa (Râu rậm như chổi/ đầu to tầy giành; tứ đốm tam khoanh) tức là tự cười mình đau đớn nhất, xót xa nhất. Trong bất cứ thời đại nào thì con người cũng là thước đo trung thực nhất về bản chất nhân văn xã hội đó, ở đây con người lại được miêu tả tha hóa, nghịch dị, ngoài tiếng cười vui vẻ, hài hước thì cũng là một cách lên án môi trường xã hội tha hóa, nghịch dị.

Nhưng miêu tả sống động tài tình nhất là “Ngã Ba Hạc phú” của Nguyễn Bá Lân (Tiến sỹ, làm quan chức Thượng thư thời Hậu Lê). Ai cũng thấy tả “cái ấy” mà không nói ra “cái ấy”: “Ba góc bờ tre văng vẳng, huyệt kim quy chênh hẻm đá gồng ghềnh/ Một chòm bãi cỏ phơi phơi, hang anh vũ thấu lòng sông huếch hoác”. Tả “hành động” ấy mà không nói là “hành động” ấy: “Tượng chân quỳ gối lắc, cầy xuôi/ Thuyền ngư phủ trôi dòng, dang nách khum lưng chèo dếch ngược”. Trên câu chữ là những hình ảnh rất mực trong sáng, tinh tế, nhưng lấp ló sau đó là hình ảnh, hành vi rất mực phồn thực. Đây là những tiền đề để có một hiện tượng Hồ Xuân Hương thiên tài tiếp sau!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).