Phiếm luận về vẻ đẹp của ong

Trong các loài vật bé nhỏ mà làm nên nhiều điều vĩ đại khiến con người phải thán phục, không thể không nhắc đến loài ong.

1. Đứng về mặt cấu trúc, ong là loài côn trùng có đời sống tổ chức xã hội rất tốt và khoa học. Trong các tổ ong có số lượng có thể lên đến vài chục ngàn con, các loài ong được phân công công việc rất rõ ràng, từ ong chúa cho tới ong đực, ong thợ, ong non… Tục ngữ Việt có câu: “Ong kiến còn có vua tôi”.

Tinh thần đoàn kết của loài ong đã đi vào nhiều tác phẩm thơ ca, trong đó phải kể đến bài thơ “Con cáo và tổ ong” của Bác Hồ, được công bố lần đầu với bút danh Nguyễn Ái Quốc trên báo Việt Nam độc lập, số 130 ra ngày 1 tháng 7 năm 1942:

Tổ ong lủng lẳng trên cành/ Trông đầy mật nhộng ngon lành lắm thay/ Cáo già nhè nhẹ lên cây/ Tưởng rằng lấy được ăn ngay cho giòn/ Ong thấy cáo muốn cướp con/ Kéo nhau xúm lại vây tròn Cáo ta/ Châm đầu, châm mắt Cáo già/ Cáo già đau quá phải sa xuống rồi/ Ong kia yêu giống yêu nòi/ Đồng tâm hiệp lực đuổi loài cáo đi/ Bây giờ ta thử so bì/ Ong còn đoàn kết huống chi là người/ Nhật, Tây áp bức giống nòi/ Ta nên đoàn kết để đòi tự do”.

Mượn câu chuyện bầy ong, bài thơ đã có một ý nghĩa cổ vũ chính trị to lớn để nhân dân Việt Nam tăng thêm tình đoàn kết và sức mạnh đấu tranh cách mạng, dẫn tới một mùa thu lịch sử giành chính quyền thành công rực rỡ, mở ra một trang sử mới cho dân tộc.

ong_mat1.jpg -0

2. Đứng về mặt hoạt động, người ta đã ước tính rằng, để làm ra một lít mật ong, đàn ong đã phải trải qua một quãng đường dài 48.000 dặm để thu thập số mật hoa cần thiết mang về sản xuất mật. Sự lao động miệt mài, cần mẫn, phi thường này đã trở thành một tứ thơ hay cho bài thơ “Hành trình của bầy ong” của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình SGK tiểu học (Tiếng Việt lớp 5) nhiều năm qua.

Hành trình ấy cũng giống như sự cống hiến và sáng tạo để làm nên một giá trị cho cuộc sống, làm nên cái đẹp cho cuộc đời: “Với đôi cánh đẫm nắng trời/ Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa/ Không gian là nẻo đường xa/ Thời gian vô tận mở ra sắc màu/ Tìm nơi thăm thẳm rừng sâu/ Bập bùng hoa chuối, trắng màu hoa ban/ Tìm nơi bờ biển sóng tràn/ Hàng cây chắn bão dịu dàng mùa hoa/ Tìm nơi quần đảo khơi xa/ Có loài hoa nở như là không tên…”. Và rồi cho đến những câu thơ cuối cùng khép lại tác phẩm, nhà thơ đi đến kết luận, cũng là nâng lên một tầm khái quát mới trong sự ngợi ca vẻ đẹp của bầy ong: “Bầy ong giữ hộ cho người/ Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày”.

Thành quả lao động của bầy ong còn được nhiều tác giả khác phản ánh trong thơ. Trong bài “Tiếng ru”, Tố Hữu đã để ong xuất hiện ngay từ câu đầu tiên của tác phẩm: “Con ong làm mật yêu hoa/ Con cá bơi yêu nước con chim ca yêu trời”. Thi sĩ Trúc Thông trong tập thơ đầu tiên “Chầm chậm tới mình” cũng dành một bài thơ để viết về chủ đề đàn ong với tên gọi “Theo người nuôi ong”. Bài thơ được ra đời trong những năm tháng chống Mỹ, là lời ngợi ca những vẻ đẹp cuộc sống, vẻ đẹp của lao động và cống hiến, điều ấy được thấy từ những sinh vật nhỏ bé như bầy ong cho tới con người: “Nắng dữ dội. Mùa hoa đang ứa mật/ Mùa phấn đang phồn thịnh nõn nà/ Mặt trời lăn nặng nề trên áo/ Nước lợ mùi mặn xót làn da/ Đàn ong ơi chúng mình ra biển/ Trắng một trời hoa vẹt nhói lòng ta…/Hỡi bầy ong cần mẫn rất thương/ Nhưng thương nhất vẫn người nuôi ong ấy/ Mùa hoa nở tiếp mùa tàn lụi/ Tim em kề sát bước đi hoa/ Đi lặng lẽ với đàn ong sôi động/ Thấp thoáng sau cây, thấp thoáng sau nhà…”.

3. Cũng vẫn trong những năm tháng chống Mỹ, ong còn được ca ngợi như những người chiến sĩ, cùng góp sức chiến đấu của mình vào cuộc kháng chiến của toàn dân: “Ôi Việt Nam xứ sở lạ lùng/ Đến em thơ cũng hóa những anh hùng/ Đến ong nhỏ cũng luyện thành dũng sĩ/ Và hoa trái cũng biến thành vũ khí” (Ê-mi-ly, con – Tố Hữu).

Nhà thơ Lưu Quang Vũ trong những năm tháng chống Mỹ cũng có những câu thơ thật trong trẻo về bầy ong, bầy ong trở thành một vẻ đẹp của mảnh vườn trong phố, cũng là vẻ đẹp của tình yêu với bao khát vọng tuổi trẻ: “Trong thành phố có một vườn cây mát/ Trong triệu người có em của ta/ Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật/ Vào vườn rồi ong chẳng nhớ lối ra” (Vườn trong phố).

Lưu Quang Vũ tiếp tục phát triển bầy ong trong một bài thơ tình khác, trở thành thi đề và hình tượng trung tâm của bài thơ. Bầy ong lúc này là một cuộc kiếm tìm với nhiều khát khao trong tình yêu đôi lứa, mang theo nó đủ những cung bậc, cả ngọt ngào lẫn cay đắng xa xót, cả tuyệt vọng và hy vọng, cả ấm áp và bơ vơ, nhưng cuối cùng vẫn là một niềm tin không thay đổi về hạnh phúc: “Trong cơn mơ là cuộc đời thức dậy/ Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em/ Con ong xanh có đôi mắt đen/ Con ong trắng bơ vơ trong tổ vắng/ Con ong đỏ là con ong thơ thẩn/ Bay đi tìm hương nhụy mất từ lâu/ Đã chết rồi ơi chú ong nâu/ Để hoa rụng mùa thu thương nhớ bạn…/ Anh thương em đây, anh lại êm đềm/ Làm con ong vàng đến ngủ giữa tóc em/ Con ong xanh có đôi mắt đen/ Con ong trắng là con ong thương nhớ/ Con ong đỏ chính niềm tin ấp ủ/ Còn hạnh phúc cuối cùng là khúc hát chú ong nâu” (Bầy ong trong đêm sâu).

Sau năm 1975, ong còn đi vào ca khúc thiếu nhi với sự hồn nhiên, nhí nhảnh, tươi sáng, mang giá trị giáo dục cho các em về sự ngoan ngoãn, chăm chỉ: “Chị Ong nâu nâu nâu nâu/ Chị bay đi đâu đi đâu/ Bác Gà Trống mới gáy/ Ông Mặt Trời mới dậy/ Mà trên những cành hoa em đã thấy chị bay/ Bé ngoan của chị ơi/ Hôm nay trời nắng tươi/ Chị bay đi tìm nhụy/ Làm mật ong nuôi đời/ Chị vâng theo bố mẹ/ Chăm làm không nên lười/ Trời xanh xanh xanh xanh xanh/ Chị Ong bay nhanh bay nhanh/ Hoa nở những cánh thắm/ Đi tìm mật trĩu nặng/ Chị ong uốn mình qua nghiêng đôi cánh chào hoa” (Chị ong nâu và em bé – Nhạc và lời: Tân Huyền).

4. Con ong còn có một đời sống khác nữa trong thành ngữ tục ngữ người Việt. Những thân phận thấp cổ bé họng, chịu nhiều áp bức bóc lột được ví với “con ong cái kiến”. Chê những người còn ít tuổi mà hay chống đối người khác, ông cha ta có câu “ong non ngứa nọc”. Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã từng sử dụng câu thành ngữ này trong một bài thơ với dụng ý phê bình, chế giễu lũ học trò dốt lại còn thích thể hiện: “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ/ Lại đây cho chị dạy làm thơ/ Ong non ngứa nọc châm hoa rữa/ Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa” (Mắng học trò dốt).

Thành ngữ tục ngữ Việt còn có các câu khác như “ong làm mật mà không được ăn”, chỉ những người lao động vất vả mà không được hưởng kết quả lao động của mình; hay như câu “ong qua bướm lại”, chỉ những gái lầu xanh trong xã hội cũ, hàng ngày phải tiếp khách làng chơi với nhiều tủi nhục bẽ bàng. Đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng từng sử dụng thành ngữ này ở đoạn Kim Kiều đoàn viên: “Thiếp từ ngộ biến đến giờ/ Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa”. Con ong trong thành ngữ tục ngữ của người Việt đôi khi được dùng với một biểu trưng tiêu cực, chỉ việc giúp đỡ một kẻ sẽ phản bội mình: “Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”.

Tóm lại, tuy là một loài sinh vật bé nhỏ nhưng con ong lại có nhiều ý nghĩa to lớn với cuộc sống của con người. Mật ong được sử dụng hàng ngày để chữa ho hoặc tác động tốt cho hệ tiêu hóa. Các sản phẩm khác của ong như sáp ong, phấn hoa, bánh ong, keo ong đều được sử dụng rộng rãi, nhằm phục vụ cuộc sống của con người trong các lĩnh vực như ẩm thực, mỹ phẩm, y tế. Gần đây nhất, nọc ong còn được sử dụng một cách hiệu quả trong việc chữa bệnh đau khớp (thấp khớp). Trong ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, ong tham gia vào việc cấu tạo nhiều thành ngữ tục ngữ, nhiều hình tượng thi ca giàu giá trị thẩm mỹ và biểu cảm, tạo nên những rung động sâu sắc, khó quên trong lòng người đọc, người nghe. 

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).