Chuyên luận của Đặng Thị Bích Hồng, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2021

Phản trinh thám và tiểu thuyết Paul Auster

Giữa thế kỉ XIX, đánh dấu sự ra đời của ấn bản văn học trinh thám đầu tiên trên Tạp chí Graham do Edgar Allen Poe chấp bút. Giống như các dòng tiểu thuyết văn học khác, thể loại trinh thám dần dần được độc giả trên thế giới đón nhận và trở thành sản phẩm của xã hội tiêu thụ phương Tây.

Ngoài việc là công cụ giải trí, các tác phẩm văn học trinh thám cũng là đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỉ XX, các học giả tại Việt Nam mới bắt đầu chú ý đến mảng văn học này. Đã có nhiều nỗ lực trong đội ngũ các nhà nghiên cứu Việt Nam nhằm khám phá thể loại mới mẻ này.

Cuốn sách "Phản trinh thám và tiểu thuyết Paul Auster" (NXB Đại học Quốc gia, 2021) của Đặng Thị Bích Hồng nằm trong nỗ lực đó. Cuốn sách tập trung nghiên cứu thể loại phản trinh thám trên cơ sở phân tích thế giới nghệ thuật đặc thù trong tiểu thuyết của nhà văn hậu hiện đại Mỹ Paul Auster.

Cuốn sách gần 200 trang này bao gồm 2 phần chính: "Phản trinh thám trong tiến trình thể loại văn học trinh thám" và "Tiểu thuyết phản trinh thám của Paul Auster". Tác giả cuốn sách, từ những thực tế về sự khan hiếm các chuyên luận về thể loại trinh thám, đã cố gắng đưa ra diện mạo của văn học phản trinh thám một cách khái quát nhất, đối chiếu giữa hai thể loại trinh thám và phản trinh thám; từ đó, xây dựng những cơ sở lí thuyết để phân tích những nét độc đáo trong nghệ thuật tự sự phản trinh thám của Paul Auster.

sách cô hồng.jpg -0
Bìa cuốn chuyên luận “PHẢN TRINH THÁM VÀ TIỂU THUYẾT PAUL AUSTER” của Đặng Thị Bích Hồng.

Ở phần một, dựa vào sự phát triển của các hình thái truyện trinh thám, tác giả Đặng Thị Bích Hồng khẳng định tiểu thuyết phản trinh thám là một hình thái nảy sinh trong quá trình vận động của thể loại tiểu thuyết trinh thám vào nửa sau thế kỉ XX. Thời kì này, văn học thế giới bước vào xu hướng hậu hiện đại với sự đa dạng về kĩ thuật sáng tác và tư tưởng văn nghệ nhằm phản ứng lại các quy chuẩn của văn học hiện đại. Trong xu hướng đó, một số nhà văn đã vận dụng, phỏng nhại hình thức và những nguyên tắc của tiểu thuyết trinh thám để sáng tạo nên tiểu thuyết phản trinh thám.

Để làm sáng tỏ sự cách tân từ truyện trinh thám đến phản trinh thám, người viết đối chiếu hai thể loại này trên hai bình diện là nhân vật và cốt truyện. Việc tìm hiểu những vận động của yếu tố nhân vật và cốt truyện đã giúp tác giả làm sáng tỏ các đặc điểm khác biệt của thể loại phản trinh thám. Những điểm khác biệt này đã làm rõ hơn tiến trình của tiểu thuyết trinh thám, một thể loại văn học vốn từng chỉ được coi là văn học giải trí. Nói cách khác, những phân tích trên đã nâng tầm vị thế của văn học trinh thám như là một đối tượng của nghiên cứu khoa học, cụ thể ở đây là bộ môn nghiên cứu văn học. Như thế, chính là sự biến chuyển của truyện trinh thám - từ việc bị coi là "sản phẩm tiêu thụ" của xã hội phương Tây - sang vùng "văn chương đích thực" đã dẫn đến sự hình thành của tiểu thuyết phản trinh thám. 

Để xây dựng lí thuyết về phản trinh thám, tác giả Đặng Thị Bích Hồng đã khảo sát các định nghĩa, các quan niệm về thuật ngữ phản trinh thám và cũng phân tích các tác phẩm được xếp vào thể loại phản trinh thám trên thế giới để đúc kết được một khái niệm của riêng mình về truyện phản trinh thám. Theo đó, thuật ngữ "phản trinh thám" được sử dụng để nói về xu hướng phát triển của tiểu thuyết trinh thám trong bối cảnh hậu hiện đại (trang 34).

Tác giả đặc biệt nhấn mạnh hai yếu tố của thể loại phản trinh thám, đó là yếu tố nhân vật và cốt truyện. Nhân vật thám tử của phản trinh thám phủ định khả năng ưu việt, óc phán đoán tài tình của nhân vật thám tử truyền thống. Cốt truyện của phản trinh thám vượt qua ngoài khuôn khổ của cuộc điều tra với tình tiết kịch tính. Tác giả lấy chuỗi tiểu thuyết của Samuel Beckett (1906-1989), Jorge Luis Borges (1899-1986) và Umberto Eco (1932-2016) để làm ví dụ điển hình cho khái niệm tiểu thuyết phản trinh thám của mình.

Ở phần hai của cuốn sách, tác giả đã diễn giải các tác phẩm phản trinh thám của Paul Auster để chứng minh rằng văn chương phản trinh thám có thể đạt đến "vị thế tháp ngà văn chương bác học". Nhà nghiên cứu Đặng Thị Bích Hồng tập trung bàn về tính thi pháp của Paul Auster trên các phương diện "hành trình tiếp nhận", "thế giới trinh thám: thám tử với mê cung", "câu hỏi về bản ngã: mã kép nhân diện thám tử", "siêu hư cấu như là nghệ thuật mờ hóa cốt truyện trinh thám" và "liên văn bản như là nghệ thuật đa tuyến cốt truyện".

Ở phần này, tác giả cuốn sách nhấn mạnh việc các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nỗ lực phân tích những thành công của tiểu thuyết Paul Austernhư "Paul Auster và Nhạc đời may rủi" của Lê Huy Bắc (2009), "Trần trụi với văn chương và ngòi bút phản tiểu thuyết trinh thám của Paul Auster" của Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2009) hoặc công trình "Đặc trưng bút pháp hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Paul Auster" của Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2014).

Riêng trong cuốn sách này, Đặng Thị Bích Hồng tiếp nhận tiểu thuyết của Paul Auster thông qua trường hợp cụ thể là tác phẩm "Bộ ba New York" (The New York Trilogy) (1987). Với công trình của mình, người viết tập trung phân tích hình tượng nhân vật và mô hình cốt truyện trong "Bộ ba New York" (The New York Trilogy) để giúp độc giả mở rộng góc nhìn về các thủ pháp nghệ thuật thuộc về hư cấu hậu hiện đại của thể loại phản trinh thám. Song song với đó, cuốn sách của Đặng Thị Bích Hồng làm nổi bật lối viết cách tân đầy mạnh mẽ và táo bạo, hình thức sáng tạo độc đáo và cách tri nhận thế giới theo hình thức mới trong thế giới nghệ thuật truyện trinh thám của Paul Auster, từ đó nhằm giúp người đọc nhận ra những độc đáo về nghệ thuật của văn học phản trinh thám.

Những "bánh răng" trong phản trinh thám của Paul Auster không hoàn toàn khớp với "bộ máy" nguyên tắc của truyện trinh thám. Đặng Thị Bích Hồng đã so sánh hành trình tìm ra thủ phạm của thám tử như mê trận trò chơi trí tuệ, đặt ra câu hỏi về bản ngã, đàm luận về việc giải mã bí ẩn câu chuyện trở thành thứ yếu và giải thích mô hình liên văn bản trong "Bộ ba New York" với những văn bản trước đó.

Điều đáng chú ý là thông qua những so sánh này, tác giả chỉ ra tính phản trinh thám trong "vỏ bọc" truyện trinh thám của "Bộ ba New York". Đó là sự phá vỡ cấu trúc những yếu tố truyền thống, đập tan những nguyên tắc trần thuật vốn có, việc đi tìm đáp án cho câu hỏi về bản thể hơn là tìm kiếm sự thật.

Quá trình đi tìm chân lí của truyện trinh thám lại có thể đồng bộ với quá trình xâm nhập cõi vô thức để đi tìm bản ngã của nhân vật. Sự đồng bộ đó thâm nhập vào bản chất ngôn ngữ của nhà văn để tái tạo hiện thực. Bộ ba tiểu thuyết thể hiện dưới ngòi bút của Paul Auster mang tính đa trị nhiều hơn so với cấu trúc nguyên bản của một tác phẩm trinh thám. Như chính Đặng Thị Bích Hồng đã viết: "Nó giải cấu trúc truyện trinh thám truyền thống, đặt ra những câu hỏi sâu sắc liên quan đến bản chất của hiện thực, giới hạn của tri thức, khả năng của sáng tạo văn chương" (trang 7).

Có thể nói văn bản phản trinh thám mang trong mình một thách thức lớn lao đối với tri thức và cảm xúc của con người. Tác giả đã thành công trong việc chứng minh "Bộ ba New York" nói riêng và phản trinh thám nói chung thể hiện sự không giới hạn trong sáng tạo của con người và sự bất biến trong chân lí cuộc đời.

Công trình "Phản trinh thám và tiểu thuyết Paul Auster" của tác giả Đặng Thị Bích Hồng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh thể loại phản trinh thám chưa nhận được chú ý đối với giới học giả ở Việt Nam. Nói cách khác, ở Việt Nam (và trên thế giới) chưa có công trình nào tập trung chuyên sâu bóc tách lịch sử cũng như các phương diện của thể loại này.

Các nghiên cứu bằng tiếng Anh như "Thám tử và giới hạn: vài lưu ý về hư cấu văn chương hậu hiện đại" (The Detective and the Boundary: Some Notes on the Postmodern Literary Imagination) của Spanos William (1972),"Cấu trúc bất biến và linh hoạt" của Major và "Truyền thống phản trinh thám" (Major's Reflex and Bone Structure and the Anti-Detective Tradition) đồng tác giả bởi Larry McCaffery và Sinda Gregory (1979), "Thám tử bị kết tội: đóng góp của tiểu thuyết trinh thám vào văn xuôi hậu hiện đại Mỹ và Ý" (The Doomed Detective: The Contribution of the Detective Novel to Postmodern American and Italian Fiction) của Stefano Tani (1984) hoặc "Chủ nghĩa Hậu hiện đại Quốc tế: Lí thuyết và Thực hành Văn học" (International Postmodernism: Theory and Literary Practice) của Hans Bertens (1997) đưa ra những định nghĩa khác nhau, không thống nhất về thuật ngữ "phản trinh thám".

Ở Việt Nam, cũng như vậy, chưa có một chuyên luận nào tập trung vào vấn đề này. Hiện nay mới chỉ có những nhận định bước đầu về thể loại phản trinh thám trong các bài báo như "Truyện trinh thám" của Vũ Đức Phúc đăng trên Tạp chí Văn học số 1/1981, "Edgar Allan Poe nhà văn trinh thám và kinh dị xuất sắc" của Lê Đình Cúc đăng trên Tạp chí Văn học, số 8/2000, "Truyện trinh thám từ Tây sang Đông" của Trần Thanh Hà đăng trên Văn nghệ Công an, số 9/2004 hoặc "Giả trinh thám trong tự sự hậu hiện đại" của Lê Huy Bắc đăng trên Tạp chí Khoa học (trường Đại học Sư phạm Hà Nội) số 2/2011.

Trong bối cảnh các nghiên cứu về thể loại phản trinh thám còn thiếu vắng ở Việt Nam, cuốn "Phản trinh thám và tiểu thuyết Paul Auster" của Đặng Thị Bích Hồng có vai trò quan trọng trong việc giúp độc giả tại Việt Nam có cái nhìn hệ thống về thể loại trinh thám nói chung và phản trinh thám nói riêng. Định nghĩa tiểu thuyết phản trinh thám là văn chương bác học thông qua nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết gia Paul Auster thực sự là một đóng góp mới mẻ của công trình này. Không những thế, việc định danh một hình thái của thể loại phản trinh thám có thể gợi mở ra những con đường nghiên cứu tiềm năng về cả thể loại lẫn tác phẩm của Paul Auster.

Minh Thủy

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).