Phan Huy Chú - “Văn chương nết đất...”!

Ngành nhân học văn hóa chứng minh, để trở thành nhân tài chủ yếu là do quá trình "tự lực cánh sinh", "gien" di truyền là tiền đề, truyền thống văn hóa gia đình, quê hương là quan trọng. Yếu tố thứ ba đóng vai trò nâng đỡ để đôi cánh tài năng bay cao bay xa vào bầu trời thời đại.

Trong thực tế cũng có trường hợp như vậy như làng Mộ Trạch (Hải Dương) từng được vua Tự Đức tặng câu: "Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ" (Mộ Trạch tài năng bằng nửa thiên hạ). Tại Văn Miếu Quốc Tử Giám có đến 18 bia khắc tên 25 Tiến sĩ của làng… Các Tiến sĩ này lại thường là người của một số dòng họ lớn. Bài viết xin giới thiệu học giả Phan Huy Chú (1782 - 1840) - mẫu người văn hóa là sản phẩm tinh hoa của dòng tộc, quê hương, tiêu biểu cho câu Kiều: "Văn chương nết đất…".

Phan Huy Chú - “Văn chương nết đất...”! -0
Tranh vẽ chân dung Phan Huy Chú (1782 – 1840).

1. Phan Huy Chú hiệu Mai Phong quê gốc Thạch Châu, Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, sinh năm Nhâm Dần 1782 tại làng Thụy Khuê (làng Thầy) huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nay là Thụy Khuê, Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội. Có thể có lý do là hai người cô Phan Huy Chú là bà Phan Thị Nẫm và Phan Thị Lĩnh là những cung tần được sủng ái trong phủ chúa Trịnh. Bà Phan Thị Lĩnh được chúa Trịnh Căn yêu chiều đưa đi ngao du ngoạn cảnh tới vùng Thụy Khê trữ tình, thơ mộng. Sau khi chúa băng hà bà Phan Thị Lĩnh chuyển về Thụy Khuê sinh sống… (!?).

Những chi tiết ấy không quan trọng bằng cả hai quê (nguyên quán và trú quán) đều có truyền thống văn hóa lâu đời. May mắn hơn, ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng nhiều thực tài. Ông nội Phan Huy Chú là tiến sĩ Phan Huy Cận (1722-1789) làm quan dưới triều Lê-Trịnh - người mở đầu cho sự nghiệp khoa bảng của dòng họ Phan Huy lừng danh. Cụ Phan Huy Cận có 5 người con đều nổi tiếng tài năng: Phan Huy Thực, Phan Huy Ôn, Phan Huy Ích, Phan Huy Sảng, Phan Huy Tân.

Thân phụ Phan Huy Chú là tiến sĩ Phan Huy Ích (1751- 1822) làm đại quan dưới thời Tây Sơn. Thân mẫu Phan Huy Chú là bà Ngô Thị Thục (em gái Ngô Thì Nhậm), tức ông ngoại Phan Huy Chú là Ngô Thì Sĩ. Có tài năng và hoài bão lớn nhưng sự nghiệp công danh Phan Huy Ích không dài vì triều Tây Sơn sớm bị triều Nguyễn thay thế. Bất đắc chí, ông về quê ở ẩn dạy học tránh xa mọi phiền lụy, thù hận, qua thơ văn để lại cho thấy đó là một tài năng nhưng không gặp thời. Ông mất trong nỗi buồn chán nhưng kịp để lại cho đời đứa con (cũng là học trò) Phan Huy Chú như ngôi sao tỏa rạng bầu trời tư tưởng học thuật thời trung đại.

Là trường hợp hiếm hoi khi mang trong mình dòng máu của hai dòng họ nổi tiếng (Phan Huy, Ngô Thì), Phan Huy Chú không chỉ kế thừa tinh hoa dòng họ nội mà còn tiếp thu tinh anh từ họ ngoại, vừa là cháu, vừa là học trò của Ngô Thì Nhậm - danh sĩ nổi tiếng đương thời, một điểm tựa tri thức của triều Tây Sơn rất được vua Quang Trung quý mến. Năm 1798 vua Quang Trung mất, triều Tây Sơn suy vi, chán nản Ngô Thì Nhậm xin từ quan về viết sách dạy học. Lúc này Phan Huy Chú 16 tuổi càng có điều kiện gần gũi người bác ruột để học hỏi một tài năng lớn của đất nước thời bấy giờ.

Như vậy cây đại thụ văn chương Phan Huy Chú tươi tốt, cường tráng trước hết là được trồng ở mảnh đất văn hóa dòng tộc. Nhưng đó vẫn là khách quan, chủ yếu và cơ bản vẫn là sự phấn đấu của chủ thể. Chính Phan Huy Chú viết trong "Lịch triều hiến chương loại chí" - trước tác tiêu biểu của ông cũng là của cả thời trung đại: "Kẻ học giả ngoài việc đọc kinh sử còn cần phải xét hỏi sâu rộng, tìm kiếm xa gần, khảo cứu để định lấy lẽ phải, thế mới đáng là người học rộng. Tôi từ nhỏ đi học vẫn thường có chí ấy. May nhờ được sách vở các đời để lại và sự dạy dỗ của gia đình nên về điển chương, gọi là có biết qua đầu mối".

Nhưng hình như ông trời hay thử thách tài năng. Thông minh, học giỏi, kiến văn uyên bác nhưng cả hai lần đi thi (năm 1807 và 1819) chỉ đỗ đến Tú tài. Trong cái rủi có cái may, sau đợt thi Hội bị trượt (1807), Phan Huy Chú đóng cửa đọc và viết hơn 10 năm để có "Lịch triều hiến chương loại chí". Vua Minh Mạng lên ngôi rất quan tâm, khuyến khích việc làm trước thuật (viết sách). Phan Huy Chú bèn dâng bộ sách này (vào năm 1821) được vua ban thưởng hai bộ áo quý kèm 30 lạng bạc và thăng vào chức Lang trung bộ Lại.

Năm 1824 được thăng chức Hồng lô tự khanh và sung vào đoàn sứ bộ đi Trung Quốc với chức Phó sứ. Năm 1829 làm Thừa phủ Thừa Thiên. Năm 1830 đi sứ Trung Quốc lần hai. Năm 1832 bị cử đi "hiệu lực" (một kiểu "biếm trích" tức kỷ luật) ở Batavia (nay thuộc Indonesia )… Những chuyến đi nước ngoài này giúp mở rộng tầm nhìn, làm giàu có thêm vốn sống, vốn tri thức và củng cố thêm bản lĩnh trước thuật của một tài năng lớn - một nhà bác học, danh nhân văn hóa Việt Nam, người tiên phong mở đường về bách khoa thư!

Phan Huy Chú - “Văn chương nết đất...”! -1
Một tác phẩm tiêu biểu của Phan Huy Chú.

Phan Huy Chú để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị, nổi bật nhất là bộ "Lịch triều hiến chương loại chí" gồm 49 quyển khảo cứu về lịch sử Việt Nam từ lập quốc đến cuối triều Lê. Bộ sách thể hiện sự công phu sưu tầm tư liệu, khảo cứu, đối chiếu sắp xếp chia theo 10 loại hiến chương gọi là chí, gồm "Dư địa chí": Khảo cứu về đất đai, phong thổ, lịch sử địa lý Việt Nam; "Nhân vật chí": Tiểu sử các vua chúa, tướng sĩ, các bậc trung thần có công; "Quan chức chí": Các chế độ quan lại; "Lễ nghi chí": Các quy định, thể chế, phẩm phục, các nghi lễ trong triều đình; "Khoa mục chí": Chế độ giáo dục, khoa cử; "Quốc dụng chí": Chế độ thuế khóa, tài chính; "Hình luật chí": Pháp luật các đời; "Binh chế chí": Quy chế tổ chức và việc luyện binh; "Văn tịch chí": Tình hình sách vở; "Bang giao chí": Công việc giao thiệp, nghi lễ đón tiếp các sứ thần.

2. Nhìn từ hôm nay, cái mới của tác phẩm này thể hiện ở chỗ nào?

Xin một phép đối sánh nhỏ. Thời trung đại vẫn còn nặng nề một quan niệm rất cũ "Thuật nhi bất tác" (kể lại mà không sáng tác/làm mới) kìm hãm sự sáng tạo của nhà văn. Đồng thời quan niệm "văn sử triết bất phân", dù có thay đổi nhưng vẫn còn hằn rõ trong các "Đại Việt thông sử" (Lê Quý Đôn), "Việt sử bị lãm" (Nguyễn Nghiễm), "Việt sử tiêu án" (Ngô Thì Sĩ)… Phải đến "Lịch triều hiến chương loại chí" mới thể hiện rõ sự vượt thóat khỏi tư duy nguyên hợp cổ xưa.

Kế thừa tính mới mẻ của tiền bối (nhất là Lê Quý Đôn), có lẽ Phan Huy Chú là người sớm nhất có một tư duy thể loại gần với hiện đại (coi thể loại là nhân vật chính của văn học). Không phải là dấu gạch nối trung đại - hiện đại mà gần như ông đứng hẳn về hiện đại với sự phân biệt rõ các khái niệm "trước thuật" (nghiên cứu) và "ngâm vịnh" (sáng tác). Cứ nhìn vào tên gọi 10 chí trên cũng phần nào nói lên điều ấy, đặc biệt là "nhân vật chí". Chưa kể tới sự sắp xếp cả bộ có chủ ý khoa học, lôgich, từ khái quát tới cụ thể rất hệ thống…

Trong bối cảnh hôm nay đọc "Lịch triều hiến chương loại chí" càng thấy khâm phục một tư duy khoa học đi trước thời đại, một phong cách nghiên cứu làm chủ tư liệu (thật đồ sộ), những nhận định bình luận đích đáng dựa trên sự khảo cứu kỹ càng. Càng thấy kính trọng một tâm huyết với truyền thống, một tinh thần dân tộc, một tư tưởng tiến bộ.

Chỉ một câu trong "Dẫn thứ tự các chí" cho thấy sự rạch ròi trong việc xác định các giới hạn: "Việc định giới hạn để ngăn cách là việc cần làm trước tiên khi mới dựng nước". Hôm nay có nhiều việc lớn nhưng chúng ta chưa có được suy nghĩ của tiền nhân, ví như có công trình trọng điểm mà "đội vốn" nhiều lần (!?). Vì sao? Vì không đủ tư duy "định giới hạn", tức không biết làm, hoặc cố tình không làm theo kế hoạch…

Con cháu cần học kỹ tinh thần dân tộc phải đặt lên trên tất cả: "Nước Việt ta, từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần phong hội đã mở, đời nào cũng có chế độ của đời ấy. Đến đời Lê, kiến thiết kỹ càng, phép tắc đầy đủ, thanh danh của nước và văn hóa, nhân tài đều thịnh không kém gì Trung Hoa" (trích trong lời Tựa).

Chính Phan Huy Chú là người đã sớm khẳng định chủ quyền Hoàng Sa của đất nước ta: "Ngoài biển phía Đông Bắc có đảo Hoàng Sa, nhiều núi lớn nhỏ, đến hơn 130 ngọn núi… Các đời chúa Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm cứ đến tháng ba, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ sáu tháng lương thực, chở năm chiếc thuyền nhỏ ra biển…". Một bài học "trước thuật" sáng ngời cho trí thức mọi thời trước hết là phải vì nước, vì tư thế, sự tồn vong và phát triển của đất nước!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).