“Phạm húy” - Một thời ám ảnh!

Ngày xưa giới văn nhân sợ nhất bị “phạm húy” tức khi viết/nói vô tình lặp lại tên vua hay tên anh em họ hàng, lăng tẩm đền đài của vua. Có người vô tình đặt tên con trùng với tên cháu của vua cũng mắc tội… Điều ấy nói lên một tính chất cực kỳ phi dân chủ của xã hội phong kiến xưa.

Xin bắt đầu bằng những tên gọi. Tên húy là gì? Là tên cha mẹ đặt cho từ lúc còn nhỏ, tức tên tục, tên khai sinh. Tên tự đặt ra để kiêng gọi tên húy, tên tục. Tên hiệu tự đặt cho mình để gọi cho nhã, cho đẹp. Thường những ai thành danh, tên tuổi, tiếng tăm mới có tên hiệu. Tên thụy còn gọi là tên hèm, tên cúng cơm là tên được đặt cho những người đã chết, thường là vua chúa, quan lại, thầy học… Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên húy là Nguyễn Văn Đạt, tự là Hạnh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ…

Vì sao phải kiêng tên húy? Điều này có lý do văn hóa. Người phương Đông xưa quan niệm tên gọi gắn với linh hồn. Ma quỷ rất thích tên đẹp, tên hay nên thấy đứa trẻ nào có tên như thế chúng sẽ bắt. Do vậy các bậc cha mẹ kiêng gọi tên tục của con mà phải đặt một tên khác, tức tên tự để ma quỷ nhầm lẫn. Người ít chữ nghĩa thì gọi tên con quê mùa xấu xí, người biết chữ đặt tên cho khác lạ mà vẫn có ý nghĩa… Dần dần trở thành một tập quán bị nhà nước phong kiến lợi dụng để tăng cường thêm quyền uy.

image001.jpg -0
Một hình phạt “trượng” (đánh bằng gậy) của Trung Quốc cổ xưa!

Đây là những chuyện có trong lịch sử Trung Quốc. Thời vua Chu Nguyên Chương (tức Minh Thái Tổ 1328 -1398) viên quan Hứa Nguyên làm bài biểu tấu ca ngợi triều đình, trong đó có tám chữ “Thể càn pháp khôn, tảo sức thái bình” (Thể chế như trời phép tắc như đất, trau chuốt làm đẹp cảnh thái bình). Nhưng nhà vua lại hiểu hai chữ “pháp khôn” không là phép tắc trời đất mà là “hình phạt cạo trọc đầu” và đọc “Tảo sức thái bình” thành “Tảo thất thái bình”, có nghĩa “sớm sẽ gặp binh đao loạn lạc”. Hứa Nguyên liền bị lôi ra xử tùng xẻo. Đời Thanh, nhà thơ Tử Tuấn chỉ vì viết hai câu thơ: “Minh nguyệt hữu tình hoàn cố ngã/ Thanh phong vô ý bất lưu nhân” (Trăng sáng có tình còn nhìn ta/ Gió mát vô ý không giữ người lại) mà mắc án chém vì bị hiểu “Thanh phong” là ám chỉ nhà Thanh, “minh nguyệt” là ám chỉ triều Minh…

Hầu hết các triều đình phong kiến Trung Quốc đều áp dụng các hình phạt tàn bạo đối với người phạm “quốc húy” tức nói tên hoàng đế, vì thế là mắc “đại tội bất kính”. Theo luật khi viết tên vua phải dùng cách “khuyết bút” tức phải bỏ nét và cách “khiếm trung” tức bên cạnh chữ “vua” không được viết những chữ “hôn” (tối tăm) “sát” (giết)... Nhưng vẫn có chuyện xảy ra và hậu quả rất thảm thương. Năm 1777, một viên quan văn tên Vương Tích Hầu viết tên Càn Long mà không dùng khuyết bút (bỏ nét) nên bị trọng tội “tru di cửu tộc” và tịch biên toàn bộ tài sản… Người xưa gọi đó là “ngục văn tự”, cố mà tránh!

Ở ta, tiểu thuyết “Lều chõng” của Ngô Tất Tố kể chuyện thí sinh Đào Vân Hạc học rất giỏi thi đỗ Hội nguyên nhưng vì phạm húy trong kì thi Đình nên bị giam hai ngày và bị truất khoa cử. Chuyện “phạm húy” này có khi chỉ là chuyện “dùng phải những chữ trùng với tên lăng, tên điện của nhà vua”. Trong tác phẩm có câu nói của ông chủ nhà trọ khi nghe các thí sinh giải thích về “phạm húy”: “-Thôi! Tôi xin lạy cả nón. Phúc tổ nhà tôi, làm sao lúc học dốt quá, đành phải bỏ học đi cày. Nếu như tôi sáng dạ một chút, mà cố theo đuổi để được cắp quyển vào trường với các ngài, thì chắc suốt đời bị tội”. Câu này có sức tố cáo nhà nước phong kiến cực kỳ ích kỷ, rẻ rúng thậm chí thủ tiêu tài năng chỉ vì những lý do không đâu.

Theo sử sách nước ta thì lệnh kiêng húy sớm nhất có ở đời Trần, thời vua Trần Thái Tông năm 1232. Nhà Trần lệnh những ai mang họ Lý phải đổi sang tên họ khác. Lý do là ông tổ nhà Trần tên Trần Lý nên ai mang tên này, họ này là “phạm húy”. Có lẽ đây chỉ là cái cớ, sâu xa hơn, nhà Trần không muốn để một ai trong họ Lý nuối tiếc quá khứ mà có tư tưởng làm phản. Vì nhà Trần vừa “tiếm ngôi” nhà Lý một cách “hòa bình”.

Đến thời vua Lê Thái tổ lệnh kiêng húy được đưa vào “luật” và phổ biến rộng rãi với các loại húy là quốc húy, tên húy, gia tộc húy và dân gian húy. Quốc húy là kiêng tên vua. Thời Lê Trung hưng do kiêng tên vua Lê Trang Tông là Lê Ninh, nên các địa danh có chữ Ninh đều phải đổi (huyện Vĩnh Ninh đổi thành Vĩnh Phúc, tức huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa nay). Vua Lê Thế Tông tên thật là Duy Đàm, nên huyện Thanh Đàm phải đổi thành Thanh Trì gần nghĩa nhau (“trì” là cái ao, “đàm” là cái đầm). Vua Lê Chân Tông tên là Duy Hựu, nên huyện Thuần Hựu phải đổi thành Thuần Lộc, nay là huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.

Trước thời Lê có dãy núi Tùng ở huyện Thụy Nguyên (nay là huyện Thiệu Hóa), sau này vì kiêng tên húy của chúa Trịnh Tùng mà dãy núi không còn tên nữa. Chúa Trịnh Tạc (1657 - 1682), được vua Lê phong cho tước Tây vương nên một loạt địa danh có chữ Tây đều phải đổi tên. Như huyện Tây Chân xứ Sơn Nam hạ đổi thành huyện Nam Chân. Đến thời Nguyễn đổi thành Nam Trực (“chân” và “trực” cùng nghĩa là ngay thẳng). Sơn Tây đổi thành xứ Đoài. Hồ Tây (Thăng Long) lại gọi là Đoài hồ. Cách đổi này dựa vào một cung trong Bát quái, “Đoài” chỉ hướng Tây.

image003.jpg -1
Văn nhân mắc tội lưu đày!

Luật “dân gian húy” vẫn còn rơi rớt đến giữa thế kỷ XX. Ai đã trên dưới 50 tuổi đều thấy ở nhà quê người ta kiêng đặt tên con trùng với tên cụ kỵ, ông bà, bố mẹ… Thậm chí kiêng đặt tên con cháu trùng tên hàng xóm láng giềng, vì quan niệm khi gọi hay khi chửi con cháu là chửi cụ kỵ, bố mẹ… người ta. Thành ra chuyện chẳng đâu vào đâu mà sinh ra mâu thuẫn, mất đoàn kết, có khi kiện cáo rất vô lối. Kỵ húy trong dân gian được nhiều nơi quy định cụ thể, chi tiết trong “hương ước”, tức lệ làng. Có làng quy định về việc kỵ húy tên thành hoàng. Ai vi phạm sẽ bị phạt…

Đến thời nhà Nguyễn, lệnh kiêng húy còn khắt khe hơn, thể hiện sự mất dân chủ đến dã man. Sĩ tử đi thi mang tâm lý rất nặng nề. “Khinh húy” (phạm húy nhẹ) tức phải kiêng tên cha mẹ chú bác, đền đài, lăng tẩm… của nhà vua. “Trọng húy” là kiêng tên của vua. Ai phạm khinh húy trong bài thi thì bị đóng gông phơi nắng ba ngày, suốt đời bị cấm đi thi. Phạm trọng húy thì bị bỏ tù và thầy dạy học cũng bị phạt vì đã để cho trò phạm lỗi. Ai đang làm quan mà viết văn bản phạm trọng húy cũng bị phạt như giáng cấp, nặng thì tù đày, bị đánh 80 trượng (theo Luật triều Gia Long). Thí sinh Đào Vân Hạc trong “Lều chõng” là phạm vào “khinh húy”. Năm 1841 dưới thời vua Thiệu Trị, nhà thơ Cao Bá Quát được cử làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Khi chấm bài thấy một số bài văn hay nhưng phạm húy, tiếc cho người có tài mà chịu thiệt thòi, ông bàn với một vài giám khảo lấy muội đèn làm mực chữa bài thi từ trượt thành đỗ. Vụ việc bị phát giác, ông bị phạt rất nặng…

Hậu quả nặng nề của “phạm húy” không chỉ con người đương thời phải chịu mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới ngôn ngữ sau này. Nhất là việc xác định danh từ riêng đích thực trong các văn bản cổ. Vì mỗi triều đại quy định cách “kỵ húy” riêng nên có tên nhân vật lịch sử hay địa danh phải chữa đi chữa lại có khi đến ba bốn lần thành ra có tên nhân vật phải đối chiếu, tra cứu rất nhiều văn bản mà cũng không chính xác.

Ví như một nhân vật nổi tiếng dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu là Nguyễn Hữu Kính, do kiêng húy không được gọi thẳng tên nên viết/ đọc trại ra là Cảnh (tức Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh). Đến thời triều Nguyễn, kiêng tên hoàng tử Cảnh, nên viết/ đọc trại một lần nữa từ Kính thành Kiếng. Vì lý do này người Nam bộ gọi (cái) “kính” là “kiếng”, “cung kiếng” thay cho “cung kính”, “kiếng lễ” thay cho “kính lễ”… Điều này lý giải vì sao một nhân vật mà có hai cách viết.

Vì kiêng húy tên vua Tự Đức là “Thì” mà Ngô Thì Nhậm thành Ngô Thời Nhiệm. Kiêng húy tên “Chu”, tức chúa Nguyễn Phúc Chu mà Phan Chu Trinh thành Phan Châu Trinh… Húy kỵ thời Nguyễn được nâng lên thành “Quốc luật”. Vẫn áp dụng lối tránh kỵ húy giống các triều đại bên Trung Quốc như dùng lối “khuyết bút”, “khiếm trung” nên câu chữ văn bản thay đổi, phải thêm nét, bớt nét, đọc chệch âm hay dùng từ đồng nghĩa. Ví như kiêng húy chữ “Tông” (tên húy của vua Thiệu Trị) mà các tên vua thời trước phải đọc chệch âm, Lý Thánh Tông đọc lại là Lý Thánh Tôn… Chỉ là tên gọi thôi nhưng quả thật vô cùng rắc rối, phiền toái, phức tạp!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).