PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện: Một đời người, một đời văn

Cuốn sách "Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng và Lý luận, thực tiễn Nghệ thuật" (NXB Hội Nhà văn, 2020) của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện, là cuốn sách in riêng thứ 9 của ông trong tổng số 46 đầu sách vừa in riêng, vừa chủ biên của tác giả trong 25 năm qua (1995 - 2020).

Cuốn sách "Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng và Lý luận, thực tiễn Nghệ thuật", đẹp cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Các vấn đề được trình bày khoa học, mạch lạc, dễ hiểu, kèm theo những ảnh tư liệu minh họa phù hợp… 

Đây là cuốn sách thứ 7 viết về Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng (sau các sách của các tác giả Hà Xuân Trường, các tác giả chủ biên: Phan Khanh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn Bính, Đinh Xuân Dũng, Lê Thị Thu Hiền...). Nhưng ở đây, tác giả tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu sự nhất quán và tiếp tục phát triển của đường lối Văn hóa văn nghệ (VHVN) của Đảng, từ "Đề cương về văn hóa Việt Nam" 1943 đến nay. 

Đây cũng là chuyên luận tham gia Đề tài khoa học cấp Ban Đảng, do Hội đồng Lý luận Phê bình (LLPB) Văn học nghệ thuật Trung ương chủ trì. Phần lớn các bài trong cuốn sách đã được đăng trên "Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam"; "Lý luận, Phê bình Văn học nghệ thuật", hoặc đã được công bố tại các Hội thảo khoa học chuyên ngành.

Chuyên luận chia 2 phần chính. Phần I: "Đường lối Văn hóa, Văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam - Sự nhất quán và phát triển", gồm 180 trang. Phần này được trình bày dưới dạng hàn lâm như một công trình khoa học, tương đương luận văn Thạc sĩ hoặc luận án Tiến sĩ. Phần II: Tiểu luận - Phê bình, gồm 17 bài, đề cập đến thực tiễn đời sống văn học nghệ thuật, góp phần làm sáng tỏ nội dung ở phần I.

Tác phẩm mới của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện.
Tác phẩm mới của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện.

Sức "nặng" của chuyên luận tập trung ở phần I. Bằng tư duy thực chứng, tổng hợp, phân tích mạch lạc, qua lịch sử đường lối VHVN của Đảng, tác giả cho thấy giá trị lý luận, tổng kết thực tiễn, chỉ đạo thực tiễn, định hướng sự phát triển Văn học nghệ thuật (VHNT) của Đường lối. Khẳng định những thành tựu của Đường lối về mặt lý luận, làm giàu kho tàng lý luận mác xít về VHNT, vừa về mặt hiệu quả thực tiễn. Trên cơ sở đó, thấy được sự kết hợp chặt chẽ giữa tư  tưởng lý luận và thực tiễn đời sống VHVN của Đường lối VHVN.

Đáng chú ý ở phần I, đó là: lần đầu tiên tác giả nêu ra những vấn đề: Khái niệm về "Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng"; Định nghĩa về Đường lối Văn hóa, Văn nghệ Việt Nam; Từ đó, đi sâu phân tích những "Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của Đường lối Văn hóa, Văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam", khẳng định tính nhất quán, kiên định, trước sau như một, trung thành với những tư tưởng, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng được vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng; Tác giả chỉ rõ: Đường lối VHVN của Đảng cộng sản Việt Nam hình thành là một quá trình, từ "Đề cương về văn hoá Việt Nam", năm 1943 và ngày càng được hoàn thiện theo từng thời kỳ lịch sử, xứng đáng trở thành nguồn lực mạnh mẽ tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn xã hội, xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh; Bên cạnh đó, tác giả nêu bật những đóng góp về hoàn thiện đường lối của những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng cũng là các nhà văn hóa lớn như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu…

Chuyên luận làm rõ bản chất của đường lối là lý luận mác xít về VHVN, vận dụng sáng tạo vào Việt Nam, nhất quán qua các giai đoạn cách mạng và luôn bổ sung, phát triển; Đồng chí Trường Chinh là người đầu tiên đặt vấn đề học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. 

Nguyễn Ngọc Thiện thẳng thắn chỉ ra, Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng bên cạnh thành tựu, còn có những hạn chế lịch sử; về tầm nhìn trong việc vạch ra Đường lối, chỉ đạo thực hiện Đường lối, qua từng giai đoạn cách mạng; Ở phần này, ngoài những lý lẽ và minh chứng xác đáng theo góc nhìn khách quan, khoa học của người nghiên cứu, tác giả còn viện dẫn những ý kiến của Tố Hữu, Hà Xuân Trường để làm rõ thêm cho những luận điểm của mình.

Từ những thành tựu, hạn chế, thiếu sót, tác giả nêu ra "Những bài học kinh nghiệm rút ra từ lý luận và thực tiễn nhằm đảm bảo sự nhất quán có tính chất nguyên tắc và sự tiếp tục không ngừng bổ sung phát triển để hoàn thiện Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng trong hơn 70 năm qua", đảm bảo thực thi hiệu quả Đường lối VHVN của Đảng. Đặc biệt, những kiến nghị có tính chất xây dựng của chuyên luận là những gợi ý rất quý cho các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cơ quan chính quyền, đoàn thể trong công tác VHVN.

Phần II của chuyên luận: Tiểu luận- Phê bình, gồm những bài viết cho thấy, tác giả bám sát đời sống thực tiễn lý luận - phê bình nghiên cứu VHVN mạnh dạn, trao đổi ý kiến thẳng thắn, có trách nhiệm. 

Phần này, tác giả quan tâm đến những vấn đề: về tư tưởng văn nghệ của Hồ Chí Minh về VHVN; phân tích tác dụng to lớn của văn hóa, nghệ thuật góp phần định hướng phát triển và tiến bộ xã hội: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi"; về "Tính chuyên nghiệp của phê bình văn học nghệ thuật và nhà phê bình chuyên nghiệp", ở bài viết này, tác giả chỉ rõ vai trò của lý luận - phê bình bằng việc viện dẫn những ý kiến của Thiếu Sơn, Hoài Thanh về thực trạng của phê bình văn nghệ Việt Nam trước Cách mạng tháng 8/1945 và những quan điểm về phê bình văn học; ý kiến của Trường Chinh trong "Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam", nhấn mạnh tính đối thoại dân chủ trong tranh luận, trao đổi ý kiến trong phê bình, nâng cao tính chiến đấu, bảo vệ cái đúng, chống những lệch lạc sai trái về quan điểm VHVN, yêu cầu người làm phê bình phải công tâm, công minh; phải đổi mới trong tư duy phê bình, khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo, thể nghiệm, sự đa dạng phong phú trong văn học nghệ thuật.

Là người tâm huyết với hoạt động LLPB, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện  rất quan tâm đến đội ngũ LLPB (nhất là đội ngũ LLPB ở các Hội VHNT), từ thực trạng về đội ngũ này ở các địa phương (vừa thiếu, vừa yếu), tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nghiên cứu lý luận, phê bình VHNT; Bên cạnh đó, ông còn dành nhiều sự quan tâm đến "Đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" trước những yêu cầu và thách thức mới: Các bài viết về "Tư tưởng và phong cách nhà văn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của GS.TS. Trần Đăng Suyền; "Một thời Đông Bắc" của Vũ Mão và "Một danh họa bậc thầy lão thực" (Họa sĩ Lê Năng Hiển) được tác giả dầy công nghiên cứu, đưa ra những nhận xét đánh giá, xác đáng, cụ thể, thuyết phục; Là người có thâm niên trong nghề, nhiều năm ở cương vị Tổng biên tập "Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam", PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện rất quan tâm đến vấn đề quản lý, nâng cao chất lượng chuyên nghiệp của báo chí văn nghệ. 

Ông mạnh dạn chỉ ra tính thiếu chuyên nghiệp cùng những hạn chế, và đề ra những kiến nghị, giải pháp kịp thời; Qua những loạt bài này ta thấy nổi lên một phong cách phê bình chuyên nghiệp, luôn gắn lý luận với thực tiễn, sâu sát cụ thể, thiết thực, đề cao tranh luận, bàn bạc trao đổi dân chủ, không áp đặt độc đoán.

Với văn phong giản dị, dễ hiểu, giọng điệu uyển chuyển, sinh động,; cách nêu vấn đề và trình bày vấn đề rõ ràng, ý kiến cá nhân được nêu ra thẳng thắn, có thể nói, ở chuyên khảo "Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng và Lý luận, thực tiễn Nghệ thuật", PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện vừa vận dụng tổng hợp những kết quả nghiên cứu đã có, vừa đưa ra những suy nghĩ kiến giải riêng, đánh giá, đúng đắn, khách quan. Qua đó, thấy được một nhãn quan khoa học, một phương pháp thâu nhặt, chọn lọc, sắp xếp, biến kiến thức của nhân loại thành hệ thống kiến thức của riêng mình. 

Không chỉ có thế, ở mảng nghiên cứu nào ông cũng đi từ khảo sát thực tế, nghiên cứu kỹ càng tư liệu thực chứng, rút ra những thông tin có giá trị khoa học, để từ đó có những nhận xét, đánh giá, luận giải sâu sắc về đối tượng được đề cập. 

Có thể nói, đây là cuốn sách quý, giọng điệu phê bình sắc sảo mà uyển chuyển nên khá hấp dẫn, người đọc sẽ tìm thấy sự thích thú và bổ ích rất nhiều cho mình khi đọc nó. Chắc chắn hành trình của tác giả vẫn tiếp tục và những hoa trái ngọt lành vẫn đang chờ ông.

Nguyễn Thị Bình

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).