Hội thảo khoa học “Văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam:

Nỗi lo cái ác lên ngôi, cái tôi lạc lõng

Chuyện con giết cha mẹ, cha mẹ hành hạ con cái, chồng giết vợ, người yêu trả thù tình ... với mức độ dã man và tinh vi hơn diễn ra ngày càng nhiều. Từ "thảm án" được báo chí liên tục giật tít cho các vụ ở Bình Phước, Nghệ An, Yên Bái... mà kẻ thủ ác là gương mặt non trẻ. Đạo đức xã hội và nhân cách con người tha hóa xuống tận đáy. Văn học, nghệ thuật có vô can?

Khi cái ác được đưa ra câu khách

Phát biểu đề dẫn tại Hội thảo khoa học toàn quốc "Văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam" do Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức trong hai ngày 3 và 4/10 tại TP Hồ Chí Minh, GS.TS Đinh Xuân Dũng đặt câu hỏi: "Thực tế nghiệt ngã của cuộc sống, phải chăng, đã là một nguyên nhan dẫn tới một cách nhìn khá phổ biển trong nhiều tác phẩm là: cái ác mạnh hơn cái thiện, nỗi đau nhiều hơn niềm vui, các mầm mống của nhân cách kiểu mới yếu hơn sức sống dai dẳng của cái cũ, cái ác...?

Và hình như niềm tin của người sáng tạo nghệ thuật rằng "trong hoàn cảnh nghiệt ngã đó, những nhân cách lớn phải xuất hiện", niềm tin đó đang giảm thiểu. Và vì thế sự bức xúc, lo lắng dồn vào tác phẩm để bật lên những cảnh báo đau xót: cái ác đang thắng thế, cái xấu đang gặm nhắm và hủy hoại dần nhân cách tốt đẹp của con người hôm nay".

Người xưa có câu "Văn dĩ tải đạo". Văn chương, nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc định hình và nuôi dưỡng nhân cách con người. Nó là bốn thành tố làm nên sự phát triển bền vững của một đất nước gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế nhưng, dường như lĩnh vực này vẫn bị xem nhẹ, chỉ coi như món đồ trang sức của xã hội. Kéo theo đó, chức năng giải trí của nó được đề cao và khai thác tối đa.

Mỗi năm nước ta có khoảng 20 bộ phim ra rạp. Nhưng phim nếu không là hài nhảm thì kinh dị; không hành động, bạo lực thì cũng nhắm vào đồng tính; không mô tả về giới showbiz thì lại nhắm đến thế giới tâm linh ma quỷ... Những phim như "Hy sinh đời trai", "Trùm cỏ", "Để Mai tính 2", "Cầu vồng không sắc", "Bụi đời chợ lớn", "Biết chết liền"... thì những nhân vật tích cực ở đây là gì ngoài những nhân vật chính diện ngô nghê, bốc đồng hoặc không đồng tính thì cũng bóng lộ có kiểu hành xử lố bịch?

Nhiều bộ phim khai thác đề tài tâm lý xã hội có xen lẫn yếu tố bạo lực, kinh dị thường úp mở rằng họ lấy cảm hứng từ những vụ án có thật. Chẳng hạn như vụ thẩm mỹ viện Cát Tường được cả phim "Scandal 2: Hào quang trở lại" và "Mất xác" lấy cảm hứng. Không chỉ phim trong nước mà các phim nước ngoài chiếu ở Việt Nam cũng đầy rẫy yếu tố bạo lực.

Đạo diễn Đặng Nhật Minh cho biết trong thời gian ông còn tham gia Hội đồng thẩm định phim quốc gia, hàng tuần phải xem từ 4 đến 5 phim do các nhà phát hành phim tư nhân nhập về. "Trung bình mỗi năm các nhà phát hành nhập về 150 phim. Đại đa số phim đó là những thứ rác rưởi, phế thải văn hóa mà người ta rước về với mục đích thu lợi bất chấp đạo lý. Rất hiếm phim có tính nghệ thuật, giáo dục" - ông nói.

Trước câu hỏi tại sao gần đây những hình tượng nhân vật văn học tích cực thiếu vắng, nhà văn Sương Nguyệt Minh cho rằng xây dựng nhân vật tốt bao giờ cũng là một thách đố với nhà văn. "Các nhân vật tốt rất khó đứng với thời gian, nếu có chăng thì rất ít ỏi như Phăngtin, chị Dậu... Thách đố này, nhà văn phải đương đầu, phải dấn thân. Nếu viết về cái ác quá trần trụi mà không mang đến cho người đọc niềm tin hy vọng và niềm tin về lòng thương yêu thì sẽ phản tác dụng". Dường như xu hướng khai thác cái ác trần trụi mà nhà văn Sương Nguyệt Minh e ngại đang được nhiều tác phẩm văn học, các bộ phim, vở kịch cố tình tô đậm, thậm chí lý giải nguyên nhân dẫn tới tội ác rất "chí lý" như một kiểu cổ súy.

Trong vở kịch theo kiểu kinh dị Thái Lan của một sân khấu tại TP Hồ Chí Minh, nhân  vật thủ ác cuối cùng cũng đền mạng nhưng người xem không thấy rõ sự trừng phạt dành cho tội ác đó. Vở không khác gì bản tình ca bi thiết dành cho mối tình đồng tính nữ.

 "Những người biện hộ cho phim kinh dị và bạo lực thường chỉ lập luận trên bình diện ý thức, rằng bạo lực là thủ pháp để xây dựng hình tượng ấn tượng, là một phương tiện để chuyển tải thông điệp nhân văn... Theo cách lập luận này thì bạo lực chỉ là đoạn đường lầy lội và gai góc phải vượt qua để đi tới đích Chân - Thiện - Mỹ.

Điều đó có thể đúng với từng phim cụ thể nhưng những hình ảnh bạo lực tràn ngập triền miên trong nhiều phim thì hiệu ứng ám thị bạo lực không còn chịu sự chi phối của ý đồ nghệ thuật nhân văn của đạo diễn từng phim nữa. Các phim tình dục, bạo lực xuất hiện liên tục trong một thời gian dài tạo nên trường hình ảnh ám thị. Nó tạo nên những thôi miên liên tục và dai dẳng tác động vào quá trình hình thành nhân cách con người. Vụ sát nhân hàng loạt của một tội phạm Mỹ - fan cuồng của phim "The Dark Night" là hậu quả nhãn tiền của dòng phim này" - đạo diễn Đỗ Minh Tuấn bóc mẽ.

Tung hê cái tôi nổi loạn

Có thể nhận định sau năm 1975, văn học, nghệ thuật là một trong những kênh quan trọng cảnh báo sự cần thiết phải cáo chung cái cũ và gợi mở sự đổi mới. Những tác phẩm của Lưu Quang Vũ, Nguyễn Minh Châu, Đặng Nhật Minh... là đã để lại ấn tượng sâu đậm của tiếng nói nghệ thuật không chỉ đồng tình với đổi mới mà còn là sự dự báo, thúc giục phải đổi mới. Trong thời kỳ hội nhập, văn học, nghệ thuật vẫn tiếp tục xu hướng đó.

Các tình tiết tội ác trong văn học, nghệ thuật được khai thác tối đa để câu khách (Trong ảnh: Poster một phim kinh dị Việt Nam).

Các tình tiết tội ác trong văn học, nghệ thuật được khai thác tối đa để câu khách (Trong ảnh: Poster một phim kinh dị Việt Nam).

Thế nhưng, nhìn về thế hệ những người sáng tạo trẻ, thì bên cạnh sự thỏa hiệp, bám vào tội ác để sáng tác thì số đông khác lại khoanh tay thờ ơ với thời cuộc. Nhiều tác giả tự coi văn học, nghệ thuật chỉ còn là sự tự thể hiện không giới hạn cái tôi cá nhân, núp dưới luận điểm: đã qua rồi thời đại văn học, nghệ thuật có sứ mệnh nuôi dưỡng và xây dựng nhân cách con người, mà chỉ còn là những "trò chơi" hình thức, trò chơi ngôn ngữ của những cá nhân "tài năng". GS Nguyễn Đình Chú cho rằng đây là hiện tượng đang nổi lên ở thời nay đến mức chưa bao giờ có, nó là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Mỹ thuật, văn học, múa, âm nhạc đương đại ít nhiều mang nặng luận điểm này. Các tác phẩm múa, mỹ thuật đương đại chỉ là những cú xoạc chân, uốn éo, khối màu rối rắm thể hiện cho cái tôi khó hiểu của tác giả. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi múa đương đại và mỹ thuật đương đại là "múa ... đại" và "vẽ ... đại".

Riêng văn học nổi lên rõ rệt dòng văn học thị trường với những bài thơ, câu chuyện luẩn quẩn trong sự hờn giận, đau đớn thất tình, cảm thức vụn vặt, tầm thường trong đời sống cá nhân như "Buồn làm sao buông", "Đi đâu cũng nhớ Sài Gòn và em", "Tay tìm níu tay", "Yêu đi rồi khóc"... Cái tôi vị kỷ, bản năng lên ngôi và nổi loạn. Thơ đượm mùi câu khách: "Thơ cho gái hư", "Yêu lần nào cũng đau"... Các tác phẩm bán chạy đều thuộc dòng này vì nó hợp thị hiếu của phần đông thanh thiếu niên.

"Trong đời sống văn học, có hai hiện tượng buộc phải suy nghĩ. Một là, có nhiều nhà thơ trẻ đều tuyên ngôn rằng thơ tôi phải là Tôi, trong thơ tôi tìm Tôi. Hai là, trong lý luận được gọi là hậu hiện đại và hậu hậu hiện đại cũng cộm lên cái Tôi và đã có quan điểm cho rằng không có chân lý của chung, chỉ có chân lý của Tôi hoặc của anh mà thôi. Nó tồn tại dưới trạng thái nồng nhiệt nhưng lại lờ mờ, rất bất lợi cho cuộc sống và cho văn chương" - GS Nguyễn Đình Chú trăn trở.

Theo các đại biểu dự hội thảo, tất nhiên đã qua rồi thời kỳ văn học, nghệ thuật làm nhiệm vụ là rao giảng đạo đức hoặc tuyên truyền kiểu tô hồng người tốt việc tốt, đứng cao hơn hiện thực để tạo ảo tưởng cho con người đang hàng ngày đương đầu với cái ác, cái thấp hèn... Thế nhưng, yêu cầu bồi dưỡng nhân cách cũng không phải là chiếc vòng kim cô cho sự sáng tạo của nghệ sĩ.

PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương nhìn nhận: "Xưa cũng như nay, trong lịch sử văn hóa nhân loại cũng như lịch sử văn hóa Việt Nam, việc xây dựng nhân cách con người, xây dựng những giá trị đạo đức tốt đẹp, đấu tranh chống lại cái ác, cái giả dối, cái thấp hèn, xấu xa trong đời sống xã hội là bản chất truyền thống của văn học, nghệ thuật.

Hiện nay, chúng ta cần thấu suốt thiên chức cao quý của người nghệ sĩ - chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, do vậy không khỏi trăn trở, suy nghĩ về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình trước thực trạng xuống cấp của nhân cách, đạo đức xã hội ".

Công chúng mong mỏi sẽ xuất hiện những tác phẩm lớn đi sâu vào cuộc đấu tranh hôm nay, phát hiện và xây dựng những nhân tố mới của con người Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Bên cạnh đó, việc giáo dục thế hệ trẻ biết cảm nhận giá trị thẩm mỹ của văn học và các loại hình nghệ thuật là điều cần thiết để đào tạo nên một thế hệ công chúng hưởng thụ có nhân cách...

Hội thảo "Văn học, nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam".

Phan Thi Uyên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).