Những câu hỏi - đáp mang tầm lịch sử!

Đặt câu hỏi là thủ pháp lập luận quen thuộc được nhiều người sử dụng trong văn chính luận. Nhưng không hề đơn giản, phải hiểu sâu sắc đối tượng, nắm chắc chân lý và hiểu bối cảnh thời thế mới có những câu hỏi đích đáng. Trả lời câu hỏi cũng là một dịp thể hiện chính kiến, tầm hiểu biết, trí tuệ của người được hỏi. Vượt lên trên tầm một lập luận thông thường là vấn đề ý thức hệ, tư tưởng, quan niệm không chỉ của một người mà còn của cả cộng đồng.

Cha ông ta từng sử dụng rất thành công nghệ thuật đặt câu hỏi vào nhiều mục đích khác nhau. Ví như trong “Đại Việt sử ký toàn thư” (viết xong năm 1272) bàn về việc Lý Thái Tổ bắt dân dựng chùa, Lê Văn Hưu viết: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức (…), tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng (…), chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc (…), dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?”.

Lập luận này vạch ra cái tội vua mắc tội quá “mộ Phật”, mới lên ngôi mà đã cho xây “tám chùa” trong khi đó “tông miếu” thờ tổ tông “chưa dựng”. Tức coi Phật còn hơn ông cha tổ tiên mình. Để xây được nhiều chùa thì phải “vét máu mỡ của dân”. Thế là hại dân chứ không phải “làm việc phúc”. Các câu hỏi được đưa ra cũng chính là các câu trả lời. Cũng bằng cấu trúc câu hỏi tác giả khái quát cao hơn về tầm chiến lược của quốc gia: Phải tránh việc “Phật hóa” tràn lan; phải lấy tấm gương của “bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm”, chứ không chỉ thỏa mãn cái sở thích riêng rồi để lại hậu quả cho con cháu sau này lười biếng.

Những câu hỏi - đáp mang tầm lịch sử -0
Tranh minh họa cảnh Nguyễn Trãi viết “Quân trung từ mệnh tập”.

Trong “Quân trung từ mệnh tập”, Nguyễn Trãi có những câu hỏi “khóa mõm” đối phương, vạch ra cái vô đạo lý, cái giả dối, tráo trở của giặc Minh tự xưng là “cha mẹ” đến bao bọc che chở người Nam nhưng thực tế thì ngược lại: “Chẳng hay làm cha mẹ lại như thế ư?... Đấng vương giả không lừa dối bốn biển, đặng bá gia không lừa dối láng giềng. Nay ngài là cha mẹ lừa dối con ư?”. Lẽ thông thường thì cha mẹ phải yêu con, ở đây thì ngược lại “cha mẹ” lại vơ vét của cải, đày đọa, chém giết “con”. “Chẳng hay làm cha mẹ lại như thế ư?”. Tương tự, cha mẹ phải làm gương cho con, ở đây cũng ngược lại, “lừa dối” “con”. “Nay ngài là cha mẹ lừa dối con ư?”. Những câu hỏi bóc trần sự thật làm trơ ra cái bản chất giết người của kẻ xâm lược!

Đến thời hiện đại nghệ thuật này được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, vận dụng thành một thứ vũ khí vạch trần tội ác của đế quốc Mỹ. Những câu hỏi của Bác Hồ sau này nhiều trường đại học báo chí trên thế giới đưa vào giáo trình giảng dạy, coi đó là những ví dụ kinh điển về lập luận. Đây là lời “thách” không chỉ cho một Tổng thống Mỹ mà còn cho cả chủ nghĩa đế quốc, cho những thế lực đi ngược lại sự tiến bộ vì con người: Nhân dịp này, tôi thách Tổng thống Kennedy trả lời mấy câu hỏi sau đây: Việt Nam xa cách Hoa Kỳ hàng vạn dặm. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Hoa Kỳ không thù oán gì nhau. Ông có lý do gì mà gây nên cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, hoang phí hàng tỉ đôla của nhân dân Hoa Kỳ để ủng hộ một chính quyền thối nát độc tài, đã bị nhân dân miền Nam Việt Nam phỉ nhổ? Ông có quyền gì mà bắt buộc hàng vạn thanh niên con em người Hoa Kỳ sang giết hại người miền Nam Việt Nam vô tội, rồi họ cũng bị chết trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, bẩn thỉu ấy?...

Vì sao Tổng thống Kennedy lại hành động tự sát một cách u mê, điều mà nghị sĩ Kennedy đã cảnh cáo một cách sáng suốt?... Tổng thống Kennedy có muốn hay là không muốn làm theo dư luận chính đáng của nhân dân Mỹ?” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14. NXB Chính trị Quốc gia 2011, tr 81). Những câu hỏi dồn dập xoáy vào những chỗ sơ hở nhất, điểm yếu nhất của đối phương rồi dùng “gậy ông đập lưng ông” để hạ bệ một cách đích đáng nhất.

Không còn là mấy câu hỏi thông thường của cá nhân với cá nhân mà là những vấn đề lớn của thời đại: Tại sao chủ nghĩa đế quốc tự cho mình quyền đi xâm lược nước khác và đi ngược lại dư luận tiến bộ? Tại sao một người khi chưa là Tổng thống Mỹ thì có suy nghĩ tích cực nhưng khi là Tổng thống Mỹ thì lại ngược lại? Phải chăng bản chất hiếu chiến, xâm lược, dã man của chủ nghĩa đế quốc đã biến sự sáng suốt của con người thành sự u mê, mà Tổng thống Kennedy là một ví dụ? Một ý nghĩa toát ra: muốn thế giới hòa bình, muốn con người hạnh phúc, thông minh, tỉnh táo, muốn con người luôn có những suy nghĩ tốt đẹp thì phải loại bỏ chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Như vậy người hỏi luôn đứng ở vị thế chính nghĩa, đạo lý, công lý để “lột mặt nạ” Tổng thống Mỹ.

Là đại diện cho nhân dân Việt Nam, đại diện cho các dân tộc bị áp bức, xâm lược, tiếng nói của Bác Hồ vượt lên trên tính cá nhân để trở thành tiếng nói của hòa bình, lương tri và lẽ phải. Vượt lên trên những thủ pháp nghệ thuật thông thường, đơn lẻ, cá biệt lời Bác Hồ vươn tới tầm phổ quát của tư tưởng thời đại: giải phóng con người, giải phóng dân tộc, đưa con người tới hạnh phúc, tự do. Đó là tầm cao văn hóa của thời đại, của lịch sử để phán xét, buộc tội chủ nghĩa đế quốc, buộc chúng phải dừng bước đi phi nghĩa đối đầu với lương tâm nhân loại.

Những câu hỏi - đáp mang tầm lịch sử -1

Ngày 30/4/1966 trên Báo Nhân dân có đăng bài "Trả lời ông Menxphin Thượng nghị sĩ Mỹ" của Hồ Chủ tịch: “Một lũ cướp hung dữ từ phương xa ồ ạt đánh vào một làng lương thiện. Như vậy, dân làng hay là lũ cướp, ai là kẻ xâm lược? Lũ cướp đã đốt phá, giết người, vơ vét của cải. Dân làng đã dũng cảm chống lại chúng. Lũ cướp bèn thay đổi chiến thuật, tay thì cầm súng sẵn sàng bắn, miệng thì bảo dân làng rằng: “Các người hãy ngồi xuống với chúng ta để đàm phán hòa bình không điều kiện”. Như vậy, dân làng nên chăng tin lời của lũ cướp?” (Sđd, tập 15, tr 109). Những câu hỏi nhưng đồng thời cũng là chân lý nên ai cũng hiểu, vì một lẽ đương nhiên: đến cướp nước người thì dứt khoát đó là kẻ xâm lược không đáng tin!

Hiệp định Paris về Việt Nam (1968-1973) thực sự là một “chiến trường” đối ngoại giữa Việt Nam - nước bị xâm lược và Mỹ - kẻ xâm lược. Đó là những cuộc đấu trí căng thẳng, không chỉ trên bàn đàm phán mà cả khi trả lời phỏng vấn. Một nhà báo phương Tây móc máy hỏi bà Nguyễn Thị Bình: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?” và nhận được câu trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Câu trả lời không đi thẳng vào trọng tâm câu hỏi mà nêu lên quan điểm về ý chí đoàn kết và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của mỗi công dân. Đó là chân lý, công lý cũng là nguyên lý lịch sử của bất kỳ một công dân yêu nước nào.

Lại có nhà báo hỏi: “Với miền Nam Việt Nam, vùng giải phóng ở đâu?”. Tận dụng ngay vấn đề câu hỏi, người trả lời đã tố cáo đanh thép tội ác tàn bạo của đế quốc Mỹ trước công luận: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”. Thật tuyệt vời! Những câu trả lời ấy mau chóng bay nhanh khắp thế giới khẳng định chính nghĩa Việt Nam, tầm trí tuệ Việt Nam, phụ nữ Việt Nam anh hùng… chắc chắn sẽ thắng Mỹ!

Nghệ thuật lập luận hỏi - đáp là câu chuyện rất dài, xin khép lại bằng hai giai thoại xưa nay để cùng suy ngẫm. Một lần trò (Hạng Thác) hỏi Khổng Tử vì sao cây tùng, cây bách mùa đông vẫn xanh tốt? Đáp: “Vì cây gỗ đặc cứng rắn, không xốp chịu được giá rét!”. Trò liền vặn lại: “Vậy sao cây tre rỗng ruột vẫn xanh tươi quanh năm được?”. Xin mời các bạn đoán Khổng Tử trả lời thế nào? Một vị mục sư hỏi lãnh tụ da đen: “Ngài có quyết tâm giải phóng người da đen, sao ngài không sang châu Phi? Ở đó nhiều người da đen!”. Lãnh tụ da đen bèn hỏi lại: “Ngài có mong muốn giải phóng linh hồn, sao ngài không xuống địa ngục? Ở đó rất nhiều linh hồn!”. Mời bạn thử trả lời giúp mục sư nọ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).