Những bí mật được tiết lộ sau gần nửa thế kỷ

Tháng 1-1961, Trung tá Bobukh Anatolyi Vladimirovich là trưởng phi hành đoàn máy bay trực thăng có nhiệm vụ chuyển số máy bay trực thăng mà Chính phủ Liên Xô viện trợ cho Việt Nam sang sân bay Cát Bi, Hải Phòng và đào tạo phi công Việt Nam lái máy bay trực thăng.

Trung tá Bobukh Anatolyi Vladimirovich, phi công lái máy bay trực thăng sinh ngày 4-6-1933 tại  tỉnh  Donetsk. Ucraina. Tháng 1-1961, ông là trưởng phi hành đoàn máy bay trực thăng có nhiệm vụ chuyển số máy bay trực thăng mà Chính phủ Liên Xô viện trợ cho Việt Nam sang sân bay Cát Bi, Hải Phòng và đào tạo phi công Việt Nam lái máy bay trực thăng.

Theo yêu cầu của hai Nhà nước, những nhiệm vụ mà phi hành đoàn trực thăng của ông thực hiện ở Việt Nam đều được giữ bí mật. Mãi tới năm 2008, bí mật này mới được tiết lộ trong quyển 1 tập hồi ức "VIỆT NAM không thể nào quên" do Nhà Xuất bản QĐND vừa mới phát hành. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc trích lược bài hồi ức của ông với tiêu đề "Những chuyến công tác đặc biệt".

BÀI I: CHUYẾN CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT SANG LÀO

Một đêm thứ Bảy trước thềm năm mới 1961, Đại tá Anokhin - Trung đoàn trưởng ra lệnh tất cả các thành viên trong đội bay trực thăng tập trung và giao nhiệm vụ chuyển số máy bay trực thăng viện trợ của Chính phủ Liên Xô sang Việt Nam. Trung đoàn trưởng quả quyết rằng, ở Hải Phòng đã có máy bay chờ sẵn để đưa chúng tôi trở về Liên Xô.

Do thời tiết ở Trung Quốc luôn luôn lạnh dưới -28 độ, nên sau hơn một tuần lễ chúng tôi mới hạ cánh tại sân bay Cát Bi. Thiếu tướng Antipov, Trưởng Tùy viên quân sự Liên Xô tại Việt Nam đã gặp chúng tôi để chúc mừng thành công của chuyến bay và thông báo do nhu cầu, chúng tôi phải ở đây vô thời hạn. Nhiệm vụ tiếp theo là đào tạo các phi công Việt Nam trong thời gian ngắn nhất.

Đang chuẩn bị khai giảng lớp học thì nhận được lệnh phi hành đoàn chúng tôi phải đưa máy bay về sân bay Gia Lâm Hà Nội. Tại Hà Nội, chúng tôi được biết quân đội của Đại úy Kong Le, ủng hộ Hoàng thân Su-va-na Fu-ma, đang bị lực lượng thân Mỹ đứng về phía Vua Lào bao vây Cánh Đồng Chum.

Trung tá Bobukh Anatoly Vladimirovich.
Trung tá Bobukh Anatoly Vladimirovich.

Chúng tôi được giao nhiệm vụ bay tới Lào để vận chuyển thực phẩm, đạn dược và thuốc từ sân bay Sầm Nưa đến Cánh Đồng Chum, và từ Cánh Đồng Chum chúng tôi sẽ đưa thương binh và người ốm về Sầm Nưa.

Nhiệm vụ này đã được chúng tôi hoàn thành tốt và lại có một nhiệm vụ đặc biệt khác đang chờ. Khi bay từ Lào trở về Hà Nội, chúng tôi phải bay qua tuyến mặt trận, luôn luôn có tiếng súng. Nên khi cần một phi hành đoàn thực hiện nhiệm vụ đặc biệt tiếp theo, một số phi công "cảm thấy không khỏe", riêng phi hành đoàn của tôi không có ai phàn nàn về sức khoẻ, và phi hành đoàn của tôi được giao nhiệm vụ đặc biệt này.

Khi gặp chúng tôi, Thiếu tướng Antipov giải thích ngắn gọn tình hình ở Lào, nơi đang có chiến sự ở thung lũng Cánh Đồng Chum. Quân đội của Đại úy Cong Le đã bị bao vây và đang cần sự giúp đỡ. Cách duy nhất để giúp đỡ người bị bao vây là đàm phán với Chính quyền của tỉnh Bắc Lào. Cần thuyết phục giới lãnh đạo Bắc Lào giúp đỡ đồng bào trong thời gian khó khăn này.

Trong các lần trao đổi bằng điện báo, đã có một thỏa thuận với giới Lãnh đạo của Bắc Lào về cuộc gặp gỡ của 2 phái đoàn. Địa điểm của cuộc gặp nằm trên lãnh thổ của Lào. Đây là địa điểm được bảo mật nghiêm ngặt. Nếu bên đối phương biết về địa điểm gặp của phái đoàn, họ sẽ ngăn cản cuộc họp và có thể cho quân nhảy dù xuống khu vực này.

Thiếu tướng cũng cảnh báo rằng chúng tôi được trao bí mật có tầm quan trọng quốc gia và chúng tôi phải chịu trách nhiệm về việc giữ gìn bí mật đó. Thiếu tướng chỉ trên bản đồ điểm mà phái đoàn sẽ được đưa đến. Đây là một vùng núi cao với một thung lũng sâu có dòng sông chảy đọc theo. Tín hiệu hạ cánh sẽ là ba đống lửa khi chúng tôi xuất hiện phía trên. Trong trường hợp không có lửa hoặc số đống lửa không phải là 3 thì không được hạ cánh và phải quay trở lại.

Thiếu tướng cho chúng tôi xem sơ đồ để chuẩn bị cho chuyến bay. Sau khi chuẩn bị xong, ông ra lệnh nộp bản đồ cho ông. Ông nói chúng tôi chỉ được nhận nó từ tay người đứng đầu phái đoàn vào thời điểm trước khi bay.

Tại chỉ huy sở sân bay, tôi đã làm quen với Giám đốc bay, với dịch vụ khí tượng. Theo dự báo thì thời tiết xấu, ban đêm và buổi sáng có sương mù thấp và mưa phùn; ban ngày sương mù đã được nâng cao, song các đám mây chỉ ở tầm cao 50-100m.

Chu kỳ thời tiết như thế này kéo dài hàng tuần lễ và mãi đến đầu  tháng hai, thời tiết mới không có sương mù. Các hành khách của chúng tôi đang đến trên 3 xe ô tô. Trưởng đoàn đã đưa cho tôi một gói trong đó có sơ đồ bay của chúng tôi. Trao đổi với nhau phải qua phiên dịch. Có hai phiên dịch: từ tiếng Lào và tiếng Pháp sang tiếng Việt và từ tiếng Việt sang tiếng Nga.

Trên máy bay có 7 hành khách và hàng hóa. Từ chỉ huy sở, chỉ huy chuyến bay đã quan sát tất cả những gì xảy ra ở gần máy bay trực thăng. Vì vậy, tôi vừa mới bắt đầu khởi động động cơ và bật radio, nghe thấy mật danh của tôi. Tôi được gọi vào liên lạc. Sau khi được phép cất cánh, tôi đã chọn độ cao, và lái máy bay theo các đồng hồ, ở độ cao 600 mét, chúng tôi ra khỏi những đám mây và bay theo tuyến đường.

Năm phút sau, tôi nhận ra chân trời đường hàng không "bị lật" nghiêng, và la bàn điện từ cho thấy đường bay không được xác định. Đang cố gắng thiết lập các thông số cần thiết của các thiết bị đồng hồ này, chúng tôi với hoa tiêu dẫn đường đã thấy rõ rằng các thiết bị này đã từ chối. Làm thế nào bây giờ? Quay trở lại và hạ cánh ở độ mây thấp mà không đọc được các thiết bị này là không thể.

Trong tình hình hiện tại, tôi đã giữ đường bay theo la bàn loại từ tính, và độ nghiêng được xác định theo chân trời đường không của phi công bên phải. Tôi quyết định tiếp tục bay dọc theo tuyến đường đến sân bay Điện Biên Phủ. Chúng tôi đã có kế hoạch hạ cánh tại đó để tiếp nhiên liệu. Một vài phút sau tôi nghe mật danh của tôi trên radio. Có người đang mời tôi vào liên lạc. Đó là phi công  máy bay "Li-2", bay cách bên phải tôi 2 km. Tôi thông báo vấn đề này cho phi công máy bay Li-2, nêu rõ tên của các thiết bị có sự cố.

Phi công máy bay Li-2 đã nhận được thông tin và khẳng định rằng sẽ gửi ngay thông tin này qua hệ thống điện báo telegraf. Phi công này yêu cầu tôi phải luôn giữ liên lạc với ông, vì ông luôn luôn bay cạnh tôi, trong trường hợp chúng tôi cần sự giúp đỡ. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì tôi không cô đơn trên bầu trời này.

Đội bay của Đại úy Bobukh thăm bảo tàng ở Điện Biên Phủ, tháng 3-1961.
Đội bay của Đại úy Bobukh thăm bảo tàng ở Điện Biên Phủ, tháng 3-1961.

Chúng tôi bay đến Điện Biên Phủ một cách an toàn. Thời tiết dọc theo tuyến đường bay quang mây và xanh biếc. Chúng tôi đã hạ cánh, nạp thêm nhiên liệu và quyết định ngày hôm nay cần tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ, mặc dù các thiết bị vẫn còn sự cố.

Chúng tôi bay đạt độ cao 2.500 mét và theo lộ trình đã chọn trên bản đồ, cho máy bay hướng sang Lào. Chúng tôi định hướng bằng mắt theo các ngọn núi và dọc theo các thung lũng. Có những đỉnh núi đạt độ cao tới 4.000 mét. Cuối cùng, theo thời gian ước tính, bằng trực quan, chúng tôi xác định thung lũng cần tìm có dải băng đáng chú ý là dòng sông.

Không hạ độ cao, chúng tôi bắt đầu bay dọc theo thung lũng. Tôi ra lệnh cho phi công hoa tiêu và kỹ thuật viên dùng mắt tìm kiếm khói từ đống lửa. Một lần đi ngang qua điểm, chúng tôi quay 180 độ và bay theo hành trình ngược lại. Và phi công bên phải nhìn thấy khói từ đống lửa.

Chúng tôi bay vượt qua ngay phía trên đống lửa, chỉ có khói, không còn lửa. Chúng tôi hạ độ thấp, quay lại 180 độ, cố gắng nhìn rõ, có thể xuất hiện khói của các đống lửa khác. Nhưng ngọn lửa đã cháy nay đã tắt rồi, và không xuất hiện những đống lửa mới. Chúng tôi rời khỏi địa bàn. Cần phải quyết định sớm: bay đi hay...

Chúng tôi quyết định bay lại ở độ cao cực thấp 30m và một lần nữa phải chú ý quan sát khi bay với tốc độ thấp. Tôi bay đến địa điểm, song không nhìn thấy một bóng người. Tôi quyết định hạ cánh xuống mép địa điểm, không tắt động cơ, giữ cho chiếc trực thăng ở tư thế cất cánh.

Chúng tôi nhìn thấy có một người xuất hiện. Ông dừng lại và đứng cách chúng tôi một trăm mét, ông không tới gần. Tôi ra lệnh cho thợ máy bay mở cửa và cử phiên dịch tiếng Pháp đi ra. Đồng chí phiên dịch nhanh chóng  ra khỏi máy bay  trực thăng, đi nhanh đến người đó. Họ nói chuyện với nhau.

Tôi không hiểu điều gì đang xảy ra. Tôi yêu cầu đồng chí Phan Nhu Can phiên dịch tiếng Nga chạy đến chỗ hai người, họ đều đứng và nói chuyện kèm theo các động tác bằng tay. Cuối cùng, đồng chí Phan Nhi Can giơ tay lên, vẫy tay trên đầu. Đó là một tín hiệu tắt máy đi. Ơn Đức Chúa Trời đã giúp chúng tôi.

Tôi tắt động cơ. Các đại biểu bước ra khỏi máy bay trực thăng trong lòng vẫn còn lo lắng và nhìn quanh. Các đồng chí phiên dịch đi tới chỗ các đại biểu, nói về một điều gì đó, sau đó mọi người đã thở phào nhẹ nhõm.

Khoảng 20 phút sau, hai người xuất hiện từ rừng cây phía bờ sông. Một người mặc quân phục, người thứ 2 mặc quần áo dân sự. Một cuộc trò chuyện ngắn đã diễn ra với sự trợ giúp của đồng chí phiên dịch tiếng Pháp.

Sau đó, các đồng chí phiên dịch lấy cái hộp đựng đồ và toàn bộ phái đoàn đi về phía bờ sông và biến mất sau rừng cây. Năm phút sau, đồng chí phiên dịch Phan Nhi Can trở lại và nói rằng có thêm ba người nữa đang ở bên sông, và các cuộc đàm phán đã bắt đầu.

Chẳng bao lâu đồng chí phiên dịch tiếng Pháp đã về và nói rằng các cuộc đàm phán đã kết thúc, và cả hai phái đoàn đều bay khỏi nơi này và tiếp tục các cuộc đàm phán ở Hà Nội. Cả hai đoàn đã đến, gồm có 10 người. Hành khách đã tăng gấp đôi. Cần sắp xếp chỗ ngồi như thế nào để không làm ảnh hưởng đến trọng tâm của trực thăng. Chúng tôi cất cánh nhẹ nhàng và đưa cả 2 phái đoàn về Điện Biên Phủ.

Chúng tôi biết là chiếc máy bay của chúng tôi đã được chuyên gia sửa chữa những hỏng hóc, bây giờ có thể đưa các đoàn về Hà Nội. Nhưng trời đã chuyển sang buổi tối. Chúng tôi trùm bạt cho máy bay và đi đến phòng điều  phối bay để đăng ký chuyến bay vào ngày mai. Kế hoạch bay của chúng tôi đã được chấp nhận. Nhưng ngày mai, ngày kia và... 17 ngày nữa chúng tôi vẫn chưa được bay. Mỗi ngày đến phòng điều phối bay, chúng tôi đều nghe câu: "không bay đi Hà Nội được!".

Tình hình này kéo dài đến ngày 20-2-1961, khi máy bay Li-2 từ Hà Nội bay lên Điện Biên Phủ đón chúng tôi về dự Lễ kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Liên Xô (23-2).

Ngay sau ngày Lễ, phi hành đoàn chúng tôi được bay trở lại Điện Biên trên máy bay IL-14 cùng với Hoàng thân Su-va-na Fu-ma. Chúng tôi được giao nhiệm vụ dùng máy bay trực thăng đang ở Điện Biên đưa Hoàng thân đến Bắc Lào. Chúng tôi đến Điện Biên trời vừa tối. Các bạn Việt Nam tổ chức một bữa ăn tối, và chúng tôi được mời ngồi cùng một bàn với Hoàng thân.

Ngồi cùng bàn còn có những người từ sứ quán Liên Xô, họ cùng bay với chúng tôi trên máy bay IL-14.  Hoàng thân Su-va-na Phu-ma nâng cốc chúc mừng. Chúng tôi không hiểu Hoàng thân nói gì, nhưng chúng tôi uống một ly vodka của sứ quán...

Sau khi ăn tối, chúng tôi về phòng mình, một trong số những người ngồi cùng bàn đuổi kịp chúng tôi, dừng tôi lại và chỉ nói đủ cho hai người nghe. Ông ấy muốn tôi sẽ tìm ra bất cứ lý do gì để không bay sang Lào. Ông ấy nhấn mạnh từng lời như sau: "Chẳng có gì để Hoàng thân làm ở Lào, mọi công việc vẫn được thực hiện khi không có ông ấy".

Ngày hôm sau, tôi đã tìm ra lý do: những đám mây thấp, các đám mây che kín các đỉnh núi, máy bay không bay sang Lào được. Hoàng thân bay về Hà Nội.

Đến đây coi như kết thúc nhiệm vụ mà Thiếu tướng Antipov trực tiếp giao cho phi hành đoàn chúng tôi. Có thể nói rằng, chúng tôi đã đóng góp vào chiến thắng các lực lượng thân Mỹ tại Lào.

(Còn tiếp)

Ninh Công Khoát (dịch)

Các tin khác

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Ngày 22/8/1954, 16 người rời Hải Phòng. Họ xuống tàu ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm 125 của Pháp, nhìn bờ biển Việt Nam nhạt dần phía sau mạn tàu. Một tuần trên biển. Rồi đảo Okinawa, nơi nhân viên tình báo Mỹ chờ sẵn để khám sức khỏe, lấy lý lịch, loại bớt 3 người không đủ tiêu chuẩn. Số còn lại lên máy bay chở thẳng đến đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương.

Những hồ sơ cùng được giải mã

Những hồ sơ cùng được giải mã

Trung tuần tháng 3/2025, Mỹ đã công bố những tài liệu cuối cùng liên quan đến vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy tại Dallas năm 1963. Nhân sự kiện trên, tạp chí Chuyện xứ người (ODC) Mỹ cập nhật nhiều hồ sơ còn “thú vị hơn” cả vụ ám sát JKF đã được CIA giải mã “toàn tập”.

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Vừa tiếp giáp với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước đó là TP Hồ Chí Minh, lại có gần 369km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên Tây Ninh luôn tiềm ẩn phức tạp do các đối tượng tội phạm luôn rình rập tuồn ma túy qua biên giới để tiêu thụ tại chỗ và trung chuyển đến các tỉnh thành lân cận tiêu thụ.

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Mùa xuân năm 1873, một nhóm người dân ở hạt Labette, Kansas, kéo đến khu đất bỏ hoang của gia đình Bender, mang theo cuốc, xẻng và những dự cảm chẳng lành. Họ xới tung mảnh vườn táo phía sau căn nhà gỗ bỏ hoang, nơi gia đình Bender từng mở quán trọ ven đường, đón khách vào ăn uống, nghỉ ngơi rồi biến mất.

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

Cách mạng Tháng Tám thành công, lực lượng an ninh, dù mới thành lập, nhưng đã liên tiếp lập nhiều chiến công. Không chỉ trấn áp, triệt phá, xóa sổ hàng chục ổ nhóm, băng đảng, tổ chức câu kết với thực dân Pháp hoạt động chống phá cách mạng, lực lượng An ninh nói chung và lực lượng phản gián nói riêng đã tương kế tựu kế, sử dụng điệp viên do Pháp huấn luyện để đánh lại chính tổ chức của chúng.

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Như bài trước chúng tôi đã đề cập, lợi dụng tình hình cách mạng mới thành lập còn non trẻ, bọn phản cách mạng trong nước đua nhau ngóc đầu dậy chống phá chính quyền. Hàng chục tổ chức và đảng phái phản động vừa có thực lực, vừa được các đội quân xâm lược nuôi dưỡng, chỉ đạo, âm mưu cướp chính quyền, trong đó phải kể đến các cá nhân, tổ chức làm việc cho địch nhưng đã tìm cách chui vào nội bộ của ta để hoạt động gián điệp.

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Vụ án số 7 phố Ôn Như Hầu ngày 12/7/1946 là chiến công xuất sắc, minh chứng tiêu biểu nhất về những đóng góp của lực lượng An ninh trong những thời khắc lịch sử giành và giữ chính quyền non trẻ của dân tộc, là mốc son chói lọi thể hiện vai trò hết sức to lớn của lực lượng An ninh nhân dân.

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Huyền thoại về các nữ chiến binh Amazon dũng mãnh đã trở thành một phần của văn hóa thế giới từ thời cổ đại. Những câu chuyện này không ngừng kích thích trí tưởng tượng của các nhà nghiên cứu và giới nghệ sĩ, là tâm điểm của các cuộc tranh luận học thuật. Tuy nhiên, ẩn sau các truyền thuyết nổi tiếng là một trang sử hoàn toàn có thật. Đó là đội nữ cận vệ đã hàng thế kỷ bảo vệ các vị vua Xiêm La - tiền thân của Thái Lan ngày nay.

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Trong số những sự cố tên lửa tai hại vì sơ suất của con người trong lịch sử khí tài của nhân loại, có sự cố vũ khí hạt nhân ở Damascus năm 1980. Rất may, chưa gây nổ đầu đạn, nếu không sẽ là “thảm họa Chernobyl nước Mỹ”.

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.