Tại đây, họ được chia làm 3 nhóm: thu thập tình báo, biệt kích phá hoại và liên lạc vô tuyến. Thời gian huấn luyện kéo dài bốn tháng. Thực hành tại một thị trấn hoang trên đảo. Rồi bay về qua New Zealand, ghé Sài Gòn, nhận thêm vũ khí ám sát, trong đó có súng ngắn và tiểu liên giảm thanh từ tay chuyên gia tình báo Mỹ mang tên Việt Nam là Tư Cụt.
Họ tưởng mình là bí mật.
Họ không biết rằng, từ giữa năm 1954, trước khi đặt chân lên tàu, lực lượng chống gián điệp Việt Nam đã nắm được những đầu mối cốt lõi của kế hoạch này.
Cả 16 người. Từ đầu.
Từ Hải Phòng đến Hà Nội
do Trần Minh Châu cầm đầu (năm 1957)
Nói vậy để thấy, sau Hiệp định Geneve, cuộc chiến không khép lại một cách gọn ghẽ như một dòng chữ trong văn kiện. Súng có thể im ở nhiều nơi, nhưng mạng lưới ngầm, kho vũ khí bí mật và các cơ sở chính trị phản động thì chưa biến mất. Chúng nằm lại trong các đô thị, trong những địa bàn dân cư tưởng như đã trở về bình thường, chờ một tín hiệu mới. Phía tình báo Mỹ đã phát hiện một bộ khung cho hoạt động gián điệp biệt kích có sẵn. Và quyết định tiếp quản.
Thông qua các nhân vật cầm đầu trong đảng Đại Việt như Đặng Văn Sung, Phan Xuân Lãm, Cao Xuân Tuyên, phía tình báo Mỹ tuyển được 16 người, phần lớn từ hàng ngũ Đại Việt. Những người này được đưa ra Guam huấn luyện, được trang bị vũ khí, cấp tài chính, tổ chức tuyên thệ và đặt tên nhóm là “Tiền phong Bắc tiến” trước khi xâm nhập trở lại miền Bắc. Nhưng qua công tác nghiệp vụ, lực lượng chống gián điệp ta đã nắm được ý đồ của đối phương ngay từ giai đoạn chuẩn bị lực lượng. Không bắt ngay. Không phá vỡ. Để chúng đi Guam, để chúng về Sài Gòn, để chúng xâm nhập miền Bắc. Tất cả trong tầm kiểm soát. Từ đó, từng bước lần theo các đầu mối, bóc dần mạng lưới cho đến tận gốc rễ.
Ngày 3/2/1955, toán đầu tiên xâm nhập về Hải Phòng. Ngày 22/3, toán thứ hai vào, trong đó có Trần Minh Châu, tức Cập. Toán cuối cùng xâm nhập vào cuối tháng 3. Trong số những người được huấn luyện, 8 tên được đưa trở lại miền Bắc, dừng ở Hải Phòng rồi chia thành 3 tổ: An Trạch do Trần Minh Châu cầm đầu, hoạt động ở Hà Nội; Hải An ở Hải Phòng; Đồng Văn ở Nam Định. Mỗi tổ có điện đài, vũ khí và 4 hộp thư liên lạc bí mật. Toàn bộ mạng lưới chịu sự điều hành của trung tâm chỉ huy “Hải Âu” đặt tại Sài Gòn, do Tư Cụt đứng đầu.
Ngày 21/3/1955, trinh sát Công an Hà Nội phát hiện Trần Minh Châu đang họp phân công tổ chức tại nhà số 9 phố Hàng Mành. Một căn nhà bình thường giữa lòng Hà Nội. Người đi lại ngoài đường không ai để ý. Nhưng từ điểm phát hiện ấy, lực lượng trinh sát bắt đầu có thêm một đầu mối quan trọng để lần sâu vào tổ chức của Trần Minh Châu.
Ngày 3/6/1955, Vụ Bảo vệ chính trị, Bộ Công an chính thức lập chuyên án, đặt bí số C30. Trong bối cảnh miền Bắc vừa tiếp quản, quyết định xác lập Chuyên án C30 không chỉ nhằm xử lý một nhóm gián điệp biệt kích cụ thể. Đó là yêu cầu bóc gỡ một mạng lưới đang tìm cách cắm rễ trở lại trong các đô thị, khống chế các kho vũ khí bí mật và ngăn từ sớm nguy cơ phá hoại có thể gây tác động lớn về chính trị, kinh tế và tâm lý xã hội.
Mục tiêu của Ban Chuyên án được xác định rất rõ: Mở rộng điều tra để phát hiện bằng hết các đầu mối; ngăn âm mưu phát triển lực lượng ngầm và đưa người trốn vào Nam; nắm chắc từng đối tượng, quản lý chặt các kho vũ khí, không để xảy ra phá hoại và khống chế liên lạc của chúng với trung tâm chỉ huy.
Vấn đề không phải là bắt nhanh, mà là bóc gỡ trọn mạng lưới, không để sót một mắt xích nào.
Ba năm chúng xây, ta đếm từng viên gạch
Trong tầm kiểm soát của Ban Chuyên án, mạng lưới gián điệp biệt kích của Trần Minh Châu vẫn tiếp tục mở rộng. Từ 3 tổ ban đầu ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, chúng phát triển thành 25 đầu mối, rải ra nhiều địa bàn như Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Quảng Ninh, Phú Thọ. Tên Đích còn lên Phú Thọ tìm địa điểm chuẩn bị bãi nhảy dù cho gián điệp biệt kích, hướng tới ý đồ lập chiến khu. Trần Minh Châu tổ chức nhiều lần vượt tuyến vào Nam, trong đó có 5 lần báo cáo trực tiếp với Tư Cụt tại Sài Gòn. Mỗi chuyến đi đều qua trạm liên lạc ở phía Nam sông Bến Hải do tên Danh cầm đầu.
Ảnh: An ninh Hải Phòng
Nhận chỉ thị, nhận tiền, rồi quay trở ra Bắc tiếp tục hoạt động. Mạng lưới ấy không chỉ thu thập tin tức, chúng còn hoạt động phá hoại một số mục tiêu cụ thể: công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, ga xe lửa Hải Phòng. Đây đều là những mục tiêu trọng yếu, nếu bị phá hoại có thể gây hậu quả lớn với giao thông, sản xuất nông nghiệp và tâm lý xã hội trong thời điểm miền Bắc đang gắng sức hồi phục sau chiến tranh, khi chính quyền cách mạng còn đang củng cố, đời sống nhân dân còn khó khăn, tình hình an ninh chính trị chưa vững.
Cả hai vụ bị lực lượng chống gián điệp phát hiện và ngăn chặn kịp thời, trước khi chất nổ kịp kích hoạt. Chúng không hiểu vì sao hỏng. Lại tiếp tục. Táo tợn hơn, chúng còn chuẩn bị phương án đón một phương tiện xâm nhập bí mật từ hướng biển Quảng Ninh.
Phía sau những bước đi ấy, lực lượng chống gián điệp vẫn bám sát từng đầu mối trọng yếu. Hơn 200 trinh sát bảo vệ chính trị từ Bộ Công an và công an các địa phương, trải rộng từ Khu III vào tới Vĩnh Linh, được điều động vào chiến dịch. Họ sử dụng một điệp viên đầu thú, một số trinh sát hoạt động dưới vỏ bọc xã hội để thâm nhập tổ chức địch, cùng 11 cơ sở tin cậy nhằm tiếp cận, nắm chắc mọi di biến động, liên lạc và hoạt động của từng điệp viên cùng những cơ sở ngầm chúng đang xây dựng. Từng đầu mối mới được đưa vào hồ sơ. Từng kho vũ khí chôn giấu được xác định vị trí. Từng lần Trần Minh Châu vượt tuyến, cùng nội dung báo cáo mà chúng mang vào Nam, đều nằm trong tay Ban Chuyên án.
Song song với theo dõi và khống chế liên lạc, Ban Chuyên án triển khai một mũi nghiệp vụ lặng lẽ hơn: tác động tâm lý vào từng đối tượng, khai thác mâu thuẫn nội bộ, phân hóa những kẻ dao động và đẩy họ đến thời điểm phải lựa chọn giữa tiếp tục phục vụ mạng lưới gián điệp hay ra đầu thú. Điệp viên Trần Đăng Hào ra đầu thú. Rồi Trần Đức Riu. Lời khai của hai người này giúp xác nhận và bổ sung những mắt xích còn thiếu trong hồ sơ chuyên án, từ cơ cấu tổ chức ở trung tâm Sài Gòn đến từng tổ đang hoạt động ở miền Bắc.
Hơn 200 cán bộ, chiến sĩ làm việc trong suốt hơn 3 năm đó. Phần lớn trong im lặng hoàn toàn. Không ai biết, không ai được biết, kể cả người thân. Cái nghề phản gián nhiều khi lạ vậy: biết nguy cơ đang lớn lên từng ngày mà không được nóng ruột; thấy đối tượng đi lại, móc nối, nhận lệnh mà vẫn phải chờ; nắm được kho vũ khí mà chưa thể vội đào lên, vì phía sau một hầm súng còn có thể là cả một đường dây chưa lộ mặt. Chờ cũng là đánh. Mà đôi khi, đó là cách đánh khó nhất.
Khi Sài Gòn biết tin thì mọi việc đã rồi…
Cuối năm 1958, tổ chức gián điệp biệt kích của Trần Minh Châu bắt đầu ráo riết chuẩn bị cho một giai đoạn hoạt động mới bằng các vụ phá hoại nhắm vào các công trình kinh tế trọng điểm của ta. Hộp thư liên lạc hoạt động dày hơn. Từ Sài Gòn, các chỉ thị liên tục thúc ép mạng lưới đẩy nhanh tiến độ. Ban Chuyên án nhận định thời điểm phá án đã chín muồi: mạng lưới cơ bản đã lộ, các kho vũ khí đã nằm trong tầm kiểm soát, những đầu mối chính đã được xác định, còn nguy cơ phá hoại đang tăng lên từng ngày.
Ngày 11/12/1958, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an đồng loạt phá án trên toàn bộ địa bàn. Trần Minh Châu bị bắt đầu tiên. Trong ngày 11 và ngày 12/11, các đối tượng còn lại lần lượt sa lưới, gồm Vũ Đình Đích, Bùi Mạnh Tiềm, Nguyễn Sĩ Hoàng, Phạm Văn Lan, Nguyễn Thị Nghĩa, Bùi Công Ký, Bùi Văn Lưu, Lê Văn Hồng, Trần Ngọc Giao, Nguyễn Đình Long, Việt Hổ. Tổng cộng 12 tên. 8 kho vũ khí bí mật bị phát hiện và thu giữ. Toàn bộ đạn dược, phương tiện liên lạc, vũ khí địch chôn giấu trong nhiều năm lần lượt “lộ thiên”, làm tê liệt hoàn toàn khả năng hoạt động của mạng lưới này.
Hà Nội. Hải Phòng. Nam Định. Cùng một đêm. Không một tiếng súng.
Trung tâm chỉ huy “Hải Âu” tại Sài Gòn không hay biết gì. Vẫn chờ điện từ miền Bắc. Vẫn tin mạng lưới đang vận hành bình thường.
Phải đến ngày 4/4/1959, khi Tòa án nhân dân tại Hà Nội mở phiên xét xử công khai, Tư Cụt và đồng bọn ở Sài Gòn mới biết mạng lưới của Trần Minh Châu đã bị xóa sổ từ gần 5 tháng trước. Tòa tuyên Trần Minh Châu tử hình; Bùi Mạnh Tiềm tù chung thân; Vũ Đình Đích và Nguyễn Sĩ Hoàng mỗi tên 20 năm tù; các đối tượng còn lại nhận các mức án khác. Ngày 26/5/1959, phiên phúc thẩm khép lại vụ án.
Gần nửa thế kỷ sau, giá trị của Chuyên án C30 tiếp tục được nhìn nhận như một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử phản gián Việt Nam. Tháng 7/2005, Tổng cục An ninh tổ chức hội thảo tại Hải Phòng nhân kỷ niệm 50 năm chiến dịch. Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an phát biểu: “Đấu tranh thắng lợi chuyên án C30 là một chiến dịch phản gián hoàn hảo; là trang sử vẻ vang của lực lượng An ninh nhân dân”.
Hai chữ “hoàn hảo” không phải ngẫu nhiên. Không một tên nào trong mạng lưới kịp chạy thoát để báo động về Nam. Không một kho vũ khí bí mật nào bị bỏ sót. Không một vụ nổ nào xảy ra trên đất Bắc trong suốt hơn 3 năm chúng hoạt động, dù chúng đã được huấn luyện, đã nhận lệnh, đã chuẩn bị phương tiện và mục tiêu phá hoại.
Đặt Chuyên án C30 trong bối cảnh miền Bắc vừa giải phóng mới thấy hết giá trị của sự kiên trì ấy. Khi chính quyền cách mạng còn đang củng cố, đời sống nhân dân còn khó khăn, các tổ chức phản cách mạng vẫn tìm cách hoạt động ở nhiều nơi. Nếu chúng thực hiện trót lọt dù chỉ một vụ phá hoại, hậu quả không chỉ nằm ở thiệt hại vật chất, mà còn ở tác động tâm lý và chính trị. Lực lượng chống gián điệp hiểu rõ điều đó. Bởi vậy, họ quán triệt phương châm “trường kỳ mai phục”. Không đánh vội, không để lộ từng bước, cũng không cho phép mình mắc một sai lầm nào trong hơn 3 năm theo dõi.
Còn căn nhà số 9 phố Hàng Mành, nơi trinh sát Công an Hà Nội phát hiện Trần Minh Châu phân công tổ chức cho đồng bọn mùa xuân năm 1955, vẫn đứng đó, bình thường như bao ngôi nhà khác giữa phố cũ. Người đi qua có thể không biết rằng từ một cuộc gặp tưởng như kín đáo ấy, lực lượng chống gián điệp đã lần ra một mạng lưới kéo dài từ Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định đến tận trung tâm chỉ huy ở Sài Gòn.
Lịch sử phản gián nhiều khi nằm trong chính những điều bình thường như thế. Một căn nhà. Một cuộc gặp. Một hộp thư bí mật. Một tín hiệu điện đài. Và sau tất cả là sự kiên nhẫn của những người biết rõ hiểm họa nhưng không được phép vội. Họ đã chọn cách đánh khó hơn: chờ. Chờ cho mạng lưới lộ hết. Chờ cho từng mắt xích hiện ra. Chờ đến khi ra tay, mọi thứ khép lại đúng như kế hoạch.
(Còn tiếp)