Như chúng ta đều biết, cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai của quân và dân ta đã giành thắng lợi lẫy lừng bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, non sông quy về một mối. Hàng triệu người đã bỏ Tổ quốc ra đi vì mắc mưu tuyên truyền tâm lý chiến của địch, trừ số di tản ra đi mang mối hận phục thù. Họ sống rải rác ở nhiều quốc gia, châu lục.
Số phản động trong cộng đồng người Việt lưu vong không nhiều, nhưng chúng được các thế lực thù địch với Việt Nam kích động, nuôi dưỡng và cho ra đời hàng chục tổ chức phản động với hàng trăm tờ báo, hàng chục đài phát thanh có chương trình tiếng Việt nhằm tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Kích động tâm lý vượt biên di tản, kích động gây chia rẽ đoàn kết Bắc Nam, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo.
Đáng lưu ý, một số tổ chức phản động nguy hiểm đã tìm cách xâm nhập Việt Nam để thực hiện mưu đồ “lật đổ chế độ”. Chúng xâm nhập bằng đường bộ, đường biển, kể cả đường hàng không. Những con thiêu thân lao vào lưới lửa cảnh giác của ta phải kể đến: “Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam”, chúng gọi tắt là “Chí nguyện phục quốc”, do Võ Đại Tôn cầm đầu xâm nhập Việt Nam đã bị bắt sống ngay; rồi tới tổ chức hùng hậu hơn, chúng lập tờ báo riêng, lập đài phát thanh lấy danh xưng “Đài tiếng nói Việt Nam kháng chiến” của cái gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”.
Chúng tôn Hoàng Cơ Minh, một viên Phó Đô đốc Hải quân của chế độ Sài Gòn cũ làm lãnh tụ với chức danh “Chủ tịch mặt trận”. Chúng tuyên truyền rùm beng “Lãnh tụ Hoàng Cơ Minh đã về Việt Nam lập chiến khu tại một khu rừng núi bí mật. Ở đó có binh hùng, tướng mạnh. Nhiều binh sĩ, sĩ quan của “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” sống trong chế độ Cộng sản đã bí mật vào chiến khu, tình nguyện gia nhập mặt trận”. Thực tế thì sao? Hoàng Cơ Minh xâm nhập Việt Nam qua nước bạn Lào. Mới tới Hạ Lào đã bị lực lượng Công an và Quân đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang của nước bạn Lào tiêu diệt. Còn người đâu mà lập chiến khu.
Kế hoạch CM12
Lại nữa... rồi lại nữa, đó là một tổ chức phản động nữa có cái tên rất kêu: “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” do Mai Văn Hạnh và Lê Quốc Túy cầm đầu. Chúng bí mật chuẩn bị rất bài bản. Từ chuẩn bị lực lượng, xây dựng “mật cứ”, chuyển vũ khí, đạn dược, phương tiện phục vụ chiến đấu, lương thực, thực phẩm, kể cả tiền Ngân hàng Việt Nam giả... Chúng làm thật, xâm nhập thật. Các toán xâm nhập đều mang mật danh “Minh Vương”. Lực lượng xâm nhập đều phải qua một khóa huấn luyện tại hai căn cứ bí mật xây dựng trên đất Thái Lan. Đó là căn cứ huấn luyện mang tên “Tự thắng” và “Quyết tiến”.
Toán biệt kích “Minh Vương 1” gồm 23 tên, xuất phát từ Thái Lan, vòng qua Campuchia, xâm nhập đường bộ vào An Giang. Chúng tính rằng rừng U Minh Thượng đủ rộng để giấu người, đủ sâu để gây dựng cơ sở. Nhưng chúng đã tính sai. Lực lượng an ninh ta, phối hợp cùng quần chúng nhân dân địa phương, phát hiện và truy lùng toán biệt kích ngay khi chúng vừa đặt chân lên đất An Giang. Toán này bị bắt gần hết. Một tên bị tiêu diệt. Điện đài, vũ khí, phương tiện bị thu sạch. Ở bên kia biên giới, Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh không biết gì.
Từ đây, chuyên án chống biệt kích xâm nhập được thành lập theo chỉ đạo của đồng chí Phạm Hùng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), quyết định không thông báo cho địch biết toán “Minh Vương 1” đã bị bắt. Thay vào đó là thuyết phục, cảm hóa các đối tượng quan trọng trong toán, rồi dùng chính họ để tiếp tục liên lạc về “Tổng hành dinh” bằng những bức điện do Ban Chuyên án chủ động soạn thảo. Bức điện đầu tiên, theo nội dung được ghi lại, đại ý là: “Đã vào đất liền an toàn, chôn giấu xong vũ khí, anh em đang dựa vào dân để sống.
Mới ổn định, cần tiền bạc để sinh hoạt. Đã chọn Hòn Đá Bạc tại xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau làm mật cứ”. Bên kia hẹn liên lạc lại. Lê Quốc Túy lập tức triển khai “Minh Vương 2”. Lần này xâm nhập bằng đường biển. Ngày 16/5/1981, toán này sa lưới. Toán trưởng Nguyễn Văn Thanh bị tiêu diệt tại chỗ, 3,5 tấn vũ khí thu giữ. Phía địch nhận được tin: đang tiến triển tốt.
Tên chuyên án được chính thức đặt từ đây: CM12 - CM là Cà Mau, địa bàn trọng tâm; 12 là ngày 12/5/1981, ngày toán biệt kích đầu tiên rời Thái Lan. Trung tâm chỉ huy đặt tại Hòn Đá Bạc. Thượng tướng Cao Đăng Chiếm, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), trực tiếp chỉ huy. Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Nguyễn Phước Tân và đồng chí Lê Tiền cùng trực tiếp điều hành chiến dịch. Giá trị đặc biệt của Kế hoạch CM12 không chỉ nằm ở số đối tượng bị bắt hay khối lượng vũ khí bị thu giữ.
Từ đây, lực lượng chống gián điệp không còn đi sau địch một bước. Họ chủ động đi trước. Địch tung toán nào vào, ta đã chuẩn bị sẵn chỗ cho toán đó đổ bộ. Địch cần xác nhận mạng lưới đang hoạt động, ta viết điện xác nhận. Trong phần lớn thời gian của chuyên án, những bước đi quan trọng của địch đều bị Ban Chuyên án nắm bắt, dẫn dắt và kiểm soát, trong khi chúng vẫn tin rằng mạng lưới trong nước đang hoạt động an toàn.
Giá trị đặc biệt của Kế hoạch CM12 là lực lượng an ninh đã dùng chính những mắt xích của đối phương để đánh lại đối phương. Các biệt kích bị bắt, được cảm hóa và sử dụng trong thế trận nghiệp vụ đã trở thành kênh liên lạc khiến Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh và đồng bọn tiếp tục tin vào một mạng lưới không còn thuộc về chúng.
Vai diễn hoàn hảo
Đại úy Trần Phương Thế khi ấy là Trưởng phòng Chống gián điệp Công an tỉnh Minh Hải, người địa phương, thông thạo địa hình, lại nhiều người không biết mặt. Ông được giao nhiệm vụ “hóa thân” vào tổ chức địch. Trước khi nhận nhiệm vụ, Bộ trưởng Phạm Hùng trực tiếp gặp và căn dặn: “Cháu phải tạo cho được lòng tin đối với Hạnh, Túy và đồng bọn.
Trong sinh hoạt, ăn nói phải đúng điệu, giao tiếp hằng ngày cần thận trọng, tránh để chúng nghi ngờ”. Nhận nhiệm vụ, ông không thể chỉ thuộc phương án trên giấy. Ông phải sống trong vai ấy. Để râu tóc dài. Ăn mặc như một người dân thường lang bạt. Đi đứng, nói năng, giao tiếp đều phải đúng cái vẻ của một người mà Mai Văn Hạnh có thể tin.
Thế là Hai Râu ra đời. Cái tên nghe xuề xòa vậy thôi, nhưng phía sau nó là một vỏ bọc được giữ bằng từng chi tiết nhỏ. Bí danh nghiệp vụ trong hồ sơ: NKA1. Ngay cả người trong dòng họ cũng không biết ông đang làm gì. Và cũng không được biết. Khổ thế đấy. Làm nhiệm vụ giữa địch đã nguy hiểm, nhưng có khi cái khó còn nằm ở chỗ phải để người thân nhìn mình bằng một ánh mắt khác, mà không thể giải thích.
Đầu tháng 6/1982, hai con tàu chở Lê Quốc Túy, bí danh C4 và Mai Văn Hạnh, bí danh C5, từ ngoài biển chạy thẳng vào huyện Trần Văn Thời. Hai Râu ra đón. Không ngại ngần cõng từng đối tượng lội qua sình lầy lên bìa rừng U Minh, rồi dẫn về “mật cứ” an toàn. Mai Văn Hạnh hài lòng lắm. Hắn khen Hai Râu chu đáo, có năng lực tổ chức, hứa sẽ đưa ra nước ngoài huấn luyện thêm. Nhưng địch không dễ tin người.
Trong thời gian ở lại “mật cứ”, chúng thử thách đủ kiểu. Có lần, một tên chĩa thẳng súng vào gáy ông, lên đạn, chờ phản ứng. Nếu ông run là xong. Ông không run. Sau này, khi nhắc lại tình huống đó, ông chỉ nói giản dị rằng, lúc đó mình làm đúng nhiệm vụ nên không sợ.
Dưới sự chỉ đạo của Ban Chuyên án, Hai Râu phối hợp với một số biệt kích đã được cảm hóa, trong đó có các đầu mối mang bí danh nghiệp vụ K64, K61, K59, để khảo sát địa điểm, dựng “mật cứ”, vẽ sơ đồ giả và chuyển báo cáo đều đặn về “Tổng hành dinh”. Mọi thứ trông như đang tiến triển thuận lợi. Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh ngày càng tự tin... và ngày càng bước sâu hơn vào bẫy.
Ở Thái Lan, chúng không biết rằng mỗi bức điện nhận được đều là thông tin do ta soạn. Mỗi chuyến tàu cập bờ đều là chuyến ta đã chờ sẵn. Mỗi lần Mai Văn Hạnh về “kiểm tra” - gặp người của mình, xem kho vũ khí, nghe báo cáo, hắn lại cung cấp thêm cho Ban Chuyên án một cơ hội kiểm chứng, điều chỉnh và siết chặt thế trận đã được chuẩn bị từ trước.
Đêm 9/9 và những điều không nói hết
Cuối năm 1983, đã 15 chuyến tàu đổ bộ vào vùng biển Cà Mau đều lần lượt rơi vào thế trận do Ban Chuyên án chuẩn bị. 126 gián điệp biệt kích bị bắt. Hơn 132 tấn vũ khí nằm trong tay ta. Phần lớn số gián điệp biệt kích mà chúng huấn luyện để tung về nước đã bị lực lượng ta nắm, bắt hoặc kiểm soát.
Thời điểm kết thúc đã đến. Ngày 9/9/1984, chuyến xâm nhập thứ 18. Hai con tàu xâm nhập cuối cùng cập Hòn Đá Bạc. Mai Văn Hạnh và Trần Văn Bá đi cùng. Lê Quốc Túy không có mặt do bị bệnh nặng. Ban Chuyên án hạ lệnh. Toàn bộ lực lượng bị bắt giữ ngay tại bờ đổ bộ. Tang vật, tài liệu bị thu sạch. Kế hoạch CM12 khép lại trong đêm đó, tại chính vùng đất 3 năm trước đã được chọn làm trung tâm chỉ huy.
Qua 3 năm đấu trí, lực lượng ta đã đón bắt trọn 18 chuyến xâm nhập; 146 tên gián điệp biệt kích; thu hơn 143 tấn vũ khí, 12 bộ điện đài, gần 300 triệu đồng tiền Ngân hàng Nhà nước giả và 9.300 USD. Không một chuyến xâm nhập lọt lưới. Lực lượng ta không chịu tổn thất về người. Từ những đầu mối để lộ trong 3 năm địch tưởng đang phát triển an toàn, lực lượng an ninh bóc gỡ 10 tổ chức phản cách mạng trong nội địa.
Ngày 14 đến 18/12/1984, Tòa án nhân dân Tối cao xét xử tại TP Hồ Chí Minh. Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá và đồng bọn bị đưa ra xét xử, nhận các mức án nghiêm khắc theo pháp luật. Ngày 25/1/1988, Lê Quốc Túy chết ở nước ngoài. Ngày 4/3/1988, bức điện cuối cùng từ đại diện của hắn tại Pháp gửi về các toán trong nước: giải tán toàn bộ tổ chức. Một kế hoạch lật đổ được chuẩn bị trong gần 15 năm, có sự hậu thuẫn từ bên ngoài, cuối cùng kết thúc bằng một bức điện.
Đại tá Trần Phương Thế - sau này được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Phó Giám đốc Công an tỉnh Cà Mau nhiều năm sau vẫn nhớ rõ những ngày tháng ấy. Nhiều chi tiết vẫn còn rõ như in. Tiếng lá rừng U Minh đêm đó. Cái lạnh của nước sình ngập ngang lưng. Mùi bùn. Và cảm giác kỳ lạ khi nghe Mai Văn Hạnh khen mình, khen một người mà hắn không bao giờ thực sự biết là ai. Khi nhắc lại chuyên án, ông nhiều lần trở về một ý giản dị: người cán bộ trong cuộc chỉ biết làm đúng kế hoạch, đúng vai, đúng yêu cầu của tổ chức. Và khi thế trận đã được chuẩn bị đúng, chiến thắng không còn là điều ngẫu nhiên.
Bây giờ, Hòn Đá Bạc là di tích lịch sử. Khách đến rồi đi. Người thuyết minh kể lại câu chuyện Kế hoạch CM12 cho những đoàn khách trẻ, nhiều người sinh sau cả cái đêm 9/9/1984 ấy. Họ nghe chuyện 18 chuyến xâm nhập, 18 lần đón bắt, hơn 143 tấn vũ khí bị thu giữ, nghe như một bộ phim.
Nhưng với những người từng ở đó, Kế hoạch CM12 không phải phim. Đó là bùn sình, là nước mặn, là những đêm nằm im nghe máy điện đài, là một cái gật đầu đúng lúc, một câu nói đúng vai, một chút run cũng không được phép lộ ra. Chiến công thì lịch sử đã ghi. Còn những điều lặng lẽ phía sau chiến công ấy, có lẽ chỉ rừng U Minh, biển Cà Mau và những người trong cuộc mới nhớ hết.