Nhớ thương quang gánh

Mỗi khi nghe lời bài hát "Gánh mẹ" được nhiều ca sĩ thể hiện thành công, lòng ta không khỏi bùi ngùi xúc động. Thương mẹ và bao người phụ nữ Việt từ thuở Âu Cơ đã một đời tần tảo vì chồng con. Thương quá khứ quê mình một thuở lam lũ nhọc nhằn. Nhớ những kỷ vật, kỷ niệm ngọt ngào đã im lìm dĩ vãng như đôi quang gánh mẹ ngày xưa…

Cho con gánh mẹ một lần
Cả đời mẹ đã tảo tần gánh con…

Mỗi khi nghe lời bài hát "Gánh mẹ" được nhiều ca sĩ thể hiện thành công, lòng ta không khỏi bùi ngùi xúc động. Thương mẹ và bao người phụ nữ Việt từ thuở Âu Cơ đã một đời tần tảo vì chồng con. Thương quá khứ quê mình một thuở lam lũ nhọc nhằn. Nhớ những kỷ vật, kỷ niệm ngọt ngào đã im lìm dĩ vãng như đôi quang gánh mẹ ngày xưa…

Quang gánh ngày xưa nhà nào chả có, thậm chí vài ba đôi; người nào chẳng biết; dẫu mỗi quê một tên gọi khác nhau nhưng đều là thứ gần gũi, gắn bó như là một chứng tích, một huyền thoại nhưng nay đã chẳng còn. Vật dụng gắn liền là thế nhưng chẳng ai biết được hoặc cất công tìm hiểu nó có nguồn gốc từ đâu, ra đời từ khi nào. Có lẽ vật dụng thô sơ mà tiện lợi, gần gũi và yêu thương này ra đời từ khi con người chuyển từ loài vượn tinh khôn biết di chuyển bằng hai chi sau, khi ngọn lửa xuất hiện trên trái đất, khi người ta phải di trú trong các hang động trong sự đổi thay của thời tiết… Quang gánh để gánh những thứ tài sản cần thiết, để gánh cả những vất vả kiếp người.

trang 19 - ảnh.jpg -0

Quang gánh gắn liền với hình ảnh của những bà, những mẹ, những chị ngày xưa. Bất kể nắng mưa, bất kể sớm trưa trên con đường làng, ngõ quê hun hút; bước chân liêu xiêu, tiếng kêu kẽo kẹt, dáng lưng còng trĩu nặng; mẹ đang gánh cả giang sơn nhà chồng. Dáng lầm lũi ấy bất chợt ta nhớ lại rưng rưng vẻ đẹp nao lòng về sức mạnh phi thường của người phụ nữ Á Đông bắt nguồn từ tình thương vô bờ bến.

Đôi quang gánh được làm ra cũng khá công phu và tốn thời gian. Nó gồm hai bộ phận là đòn gánh và quang gióng. Đòn gánh được làm từ những đoạn gốc tre già và thẳng. Tre chặt ra, đem ngâm dưới bùn vài tháng , sau đó vớt lên đem phơi khô và hun khói để tăng thêm độ chắc dẻo, chống mối mọt. Thân đòn gánh bẹ lớn vừa để phân tán lực đều ra cho vai đỡ đau vừa đảm bảo khả năng chịu lực, lướt dẻo mà không gãy. Hai đầu đòn gánh người ta chừa mắt tre để khắc mấu hoặc đóng hai chiếc dăm tre để cố định đôi quang gióng. Đôi quang gióng chủ yếu làm bằng chất liệu dây mây và sau cải tiến hơn là dây thép.

Để làm được đôi quang gióng đẹp, bền, chắc phải là những người tài hoa trong làng mà nay người ta thường gọi là nghệ nhân. Mỗi quang gióng gồm bốn gióng, mỗi gióng là hai sợi mây. Đầu gióng sẽ kết chụm lại để đưa đòn gánh vào. Phía dưới quang gióng là một vòng tròn đế cũng được làm từ tre già uốn cong. Đường kính vòng đế to nhỏ tùy thuộc vào loại gánh gì nhưng thông thường khoảng từ 30 - 40cm. Nếu chiều dài đòn gánh người ta ước lượng với chiều dài sải tay của người gánh thì chiều cao của quang gióng lại phụ thuộc chiều cao con người để khi gánh đi không quyét đất khó di chuyển.

Quang gánh là vật dụng phổ biến ở mọi vùng miền, mọi công việc mà ta dễ dàng bắt gặp từ nông thôn đến thành thị. Là những người nông dân chân lấm tay bùn gánh mạ, gánh phân ra đồng, gánh lúa trở về. Là những cô thôn nữ gánh cỏ đầy đầu gióng trong buổi nông nhàn, gánh nước giếng làng dưới đêm trăng thanh. Là mẹ gánh khoai, gánh rau ra chợ lúc nặng trĩu khi nhẹ tênh mà tuổi thơ có những lúc ta mòn mỏi đứng trông nơi đâu ngõ. Gánh hàng mẹ về buổi chợ giáp Tết ta ngỡ như mẹ gánh cả mùa xuân.

Là những diêm dân nhọc nhằn gánh muối trong chập choạng bóng chiều trên bờ biển. Là gánh sắn (mì), gánh ngô bàn chân bấm tóe máu trên con đường mòn gập ghềnh đá núi cao nguyên. Là gánh cỗ đơm cơm đem đến từ đường trong ngày lễ Tết. Là gánh hàng rong cùng tiếng rao trầm buồn một sớm mai nào nơi hẻm phố. (Ta chợt bâng khuâng nhớ thuở học ở Huế, có phải đời sống sinh viên nghèo hay đồng cảm với những bà, những mệ mà thường hay sà vào những gánh hàng rong nào bún Huế, nào cơm hến, nào chè thập cẩm… Gánh nào cũng khiến ta ngỡ như hơn tất thảy những sơn hào hải vị trong đời)…

Mẹ gánh quanh năm suốt tháng. Đòn sờn bóng mồ hôi, quang mòn, vai mòn; đường làng, đồng đất, triền đê, lối chợ… đều hằn dấu chân in nét tảo tần đôi quang gánh mẹ. Xưa ta cũng tập tành học gánh. Đi được một quãng đường mà hết trở vai này đến vai kia. Có lúc mệt quá lại gánh ngang; mẹ nhìn ta cười bảo: Giống thằng Bờm vác tre. Có khi gánh niềm vui, có lúc gánh nỗi buồn, có lúc gánh nhọc nhằn hạnh phúc, lúc lại gánh nhẹ bẫng nỗi đau.

Người xưa bảo: "người làm sao của chiêm bao làm vậy"; nhìn dáng đi trên vai trĩu đôi quang gánh mà nhà ai chọn được dâu hiền. Nhìn đôi quang gánh, ta lại chợt nhớ về trò chơi cờ gánh - một trò chơi thuần túy của Việt Nam. Cờ gánh, trò chơi yêu thích của một thời thơ ấu nay chẳng thấy mấy ai chơi. Ta còn nhớ những háo hức ngày xưa khi học được cách chơi. Cờ gánh được lũ con nít nhà quê ngày xưa thích chơi bởi nó vừa trí tuệ vừa giải trí; không cầu kì trong cách chơi mà rất linh hoạt. Chỉ cần viên phấn, hòn than hay cái que là vẽ ngay ra bàn cờ. Quân thì có thể là lá cây, vỏ ốc, bẹ chuối cắt thành ô hay những tờ giấy xé ra…

Chơi cờ gánh đem lại tiếng cười vui vẻ mà không đặt nặng chuyện thắng thua. Chắc có lẽ cờ gánh có nguồn gốc xuất xứ từ miền Trung, bởi cờ gánh cũng như mảnh đất này là chiếc đòn gánh gánh hai đầu đất nước. Bàn cờ gánh cũng đã thể hiện tính cách thẳng thắn của người miền Trung nói riêng và người Việt Nam nói chung không thích vòng vo Tam quốc. Đơn giản trong luật chơi nhưng cờ gánh chứa đựng trong đó nhiều nét thâm thúy, sâu xa gợi lên ước vọng của nhân dân ta. Trong bàn cờ không phân biệt vua, hậu, tướng, sĩ, tốt… mà các quân đều di chuyển như nhau, vai trò bình đẳng với nhau. Nó toát lên ước mơ về một xã hội công bằng, hòa hợp được gửi gắm trong trò chơi đã thành di sản dân gian.

Xã hội phát triển cùng với những máy móc, phương tiện thay thế cho sức người ra đời. Đôi quang gánh nằm im lìm trên gác bếp nhẹ nhõm khi đã hoàn thành sứ mệnh, đôi lúc cũng thở dài tiếc nuối nhớ về thuở vàng son. Rồi cùng đôi quang gánh, những nong nia, rổ rá, thúng mủng, giần sàng cũng đã không còn hiện diện trong đời sống thường nhật. Nếp xưa dĩ vãng, có còn ai thấy tiếc nhớ khi chợt nhận ra, quang gánh đâu chỉ là vật dụng chuyên chở hàng hóa mà nó còn chở cả tâm hồn người Việt nơi làng quê. Đôi quang gánh ngày xưa đã gánh gồng cả năm tháng đời người.

Thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp những đôi quang gánh mới tinh trong những nhà hàng, khách sạn như cách để người ta muốn thu hút "thương đế" bàng cảm giác thôn dã, chân quê. Ngắm những đôi quang gánh mô hình ấy, liệu có ai nhớ về, chợt thương với những thân cò, thân vạc chốn quê xưa. Kỷ niệm ùa về để mà thương một thời khó nhọc, mà biết nâng niu những những gì mình đang có hôm nay. Kỷ niệm ùa về rồi lòng ta chợt nhớ một thời: 

Rủ nhau lên núi đốt than
Chồng mang đòn gánh vợ mang quang giành
Củi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên

 (Ca dao)

Đinh Hạ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).