Nhịp điệu văn xuôi

Thơ có nhịp điệu thì đương nhiên rồi nhưng ở đây tôi muốn bàn tới nhịp điệu của văn xuôi, điều mà rất ít người viết để ý. Văn có nhịp điệu nó dễ đọc, dễ nhớ vừa tạo được những ấn tượng và hiệu quả bất ngờ.

Người để ý đến nhịp điệp văn xuôi một cách có chủ ý nhất có lẽ là Nguyễn Tuân. Ông đã từng nói rằng: “Người làm nghề viết phải biết tạo ra những câu văn có khớp xương biết co duỗi nhịp nhàng.” Sự “co duỗi nhịp nhàng” chính là sự trơn tru của câu văn, đọc lên thấy xuôi đều, êm mượt, lướt nhẹ như đi trên đường phẳng. Văn xuôi có nhịp điệu thường giàu chất thơ và đẹp. Người đọc ấn tượng và dễ nhớ. Đây là đoạn trích trong tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân: 

Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

Rất khó giải thích cái nhịp điệu của văn xuôi cụ thể ra sao nhưng có thể hiểu một cách đơn giản đọc câu văn lên nó không bị vấp, không bị khểnh, đọc đến đâu xuôi đến đó. Những vần trắc, vần bằng được đặt đúng chỗ tạo ra sự nhịp nhàng, ăn khớp, đặc biệt khi đọc to lên thấy sự phối thanh điệu rất nhuần nhuyễn, tự nhiên. Rất nhiều nhà văn chọn cách đọc to văn bản của mình lên để kiểm tra sự êm trơn của câu chữ và hiệu quả với người đọc. Sự đọc thành tiếng một đoạn văn là cách dễ nhất nhận biết đoạn văn ấy có nhịp điệu hay không và từ đó có những điều chỉnh nhất định trong cách dùng từ, đặt câu, nếu người viết chủ trương xây dựng nhịp điệu cho câu văn. Đây cũng là cách tôi hướng dẫn sinh viên lớp viết văn lựa chọn những từ, những chữ để hơi văn được nhịp nhàng, tự nhiên, cuốn hút và thân thiện với người đọc.

Nhịp điệu của văn xuôi, đặc biệt quan trọng trong câu kết của truyện ngắn, tản văn. Vì nếu biết sử dụng nhịp điệu, tác phẩm sẽ mở ra những khoảng mênh mang, tạo ra âm hưởng lớn hơn so với kiểu kết thúc cụt lủn hoặc không chú ý đến âm điệu, nhịp văn. Khi làm biên tập, tôi đã từng sửa những đoạn kết, câu kết của truyện và được tác giả đồng tình, họ đồng ý rằng chúng có hiệu quả hơn câu cũ.

Nguyên bản đoạn kết của truyện ngắn “Con ma của rừng già” của Kiều Duy Khánh như sau: 

“Cú...cú...cú... Trong cánh rừng Cô Linh, con cú già đã kêu lên ba tiếng. Tiếng chim đêm xa vắng rơi vào trăng, sương bồng bềnh.

Đã nửa đêm”

Được sửa thành:

“Cú... cú... cú... Trong cánh rừng Cô Linh, con cú già đã kêu lên ba tiếng. Tiếng chim đêm xa vắng rơi vào trăng, bồng bềnh. Dự cầm cái bùa chải, ngửa người bàng hoàng, thấy thân mình bỗng nhẹ bẫng như rơi xuống một khoảng đầy sương…”

Nếu độc giả đọc to lên thành tiếng cả hai đoạn kết, sẽ thấy câu cuối cùng ở bản được sửa tạo ra những khoảng mênh mông và dư ba hơn.

 Tương tự, nguyên bản đoạn kết truyện “Chiều nay thị trấn có mưa” của Yến Dương như sau: 

“Mọi thứ xung quanh chợt bất động. Trong mắt tôi chỉ thu nhận hình ảnh chiếc xe Lead đang di chuyển. Tôi hoà vào màn mưa trắng, bàn tay chới với giữa không trung. Chiếc xe lao đi vun vút. Bức tranh bên mâm cơm vẫn thiếu một người ngồi. Tôi úp mặt vào mưa. Khóc”.

Được sửa thành:

“Mọi thứ xung quanh chợt bất động. Trong mắt tôi chỉ thu nhận hình ảnh chiếc xe Lead đang di chuyển. Tôi hoà vào màn mưa trắng, bàn tay chới với giữa không trung. Chiếc xe lao đi vun vút. Bức tranh bên mâm cơm vẫn thiếu một người ngồi. Tôi úp mặt vào hai bàn tay. Khóc. Thị trấn vẫn mưa tầm tã…”.

Lại tiếp tục đọc thành tiếng vang lên một chút ở bản biên tập, thậm chí độc giả có thể cảm nhận được tiếng mưa và tiếng khóc của nhân vật trong truyện.

Còn đây là một đoạn trong truyện ngắn “Khắc dấu mạn thuyền” của Bảo Ninh:

“Sụp mũ cối xuống, dựng cổ áo lên, tôi lần sâu vào trong màn mưa phùn mờ mỏng dưới trời đêm lạnh buốt. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại. Thăm thẳm nối nhau những chặng đường khuya không ánh sáng đèn, không một bóng bộ hành, không bóng một hàng quán”.

Chỉ có vài câu, một nỗi miên man hoang vắng cộng với nhịp văn chầm chậm, đều đều gợi cho người ta không khí thế lương, buồn thảm của một thành phố đang có chiến tranh.

Thêm một ví dụ nữa về cái kết và cũng là một đoạn văn có nhịp điệu trong truyện ngắn “Cơn mưa hoa mận trắng” của Phạm Duy Nghĩa:

“Cái xác sạch bong, mũm mĩm của thằng Tốn nhòe dần. Một cơn lốc từ đâu thổi tới, cuốn lên thinh không mịt mù những chiếc lá đỏ rực có ba thùy. Khi những đốm lửa ấy cháy rần rật, xoay tròn rồi tan rụng hết, Thuận trông thấy Hà, cô bạn gái của Kiên mà chị chỉ biết mơ hồ qua tấm ảnh. Hai người gặp nhau ở Cán Hồ, cùng lạc trong rừng mận. Điều kì lạ là cả Thuận và cô sinh viên trẻ trung đều không mặc quần áo. Tất thảy vẹn toàn, trinh trắng, nguyên thủy, ban đầu. Hoa mận trút xuống ào ào thành một cơn mưa trắng xóa, xác hoa dâng ngập bắp chân. Cả hai cứ trần truồng bước đi trong mưa hoa, không thấy ngượng ngùng, người nhẹ bỗng, bâng lâng trong những ý nghĩ siêu thoát và chay tịnh. Tấm thân Hà thơm ngát như một tiên đồng. Lòng Thuận trong vắt, sạch tinh, tuyệt không còn ham muốn. Trừ diệt mọi ham muốn, trong tính đa dạng của trần thế, là trừ diệt cái gốc của mọi đau khổ. Chân lí Phật đạo là thế, giản dị, tươi lành và tinh khiết như một cơn mưa ở cõi vĩnh hằng.”

Như đã nói ở ban đầu, rất ít người chú ý đến nhịp điệu của câu văn hoặc không chủ trương như thế. Cứ viết cho tròn vành, rõ chữ, đúng ngữ pháp là được. Nhưng văn học là nghệ thuật của ngôn từ, nếu được thêm gia vị của nhịp điệu, tôi tin rằng câu văn sẽ hấp dẫn và quyến rũ hơn, thậm chí người đọc có thể nhớ được cả một đoạn văn dài mà không cần quá nhiều nỗ lực, điều này thấy rõ ở thơ và các thể loại văn biền ngẫu.

Sự mất mát hoặc thêm bớt nhịp điệu văn xuôi thường hay xảy ra trong các  văn bản dịch. Đôi khi người dịch khó/không thể nào truyền tải được nhịp điệu của văn bản nguyên gốc sang ngôn ngữ đích vì sự không tương ứng về từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp hoặc sự khác biệt về tư duy ngôn ngữ. Đôi khi ta nghe thấy sự phàn nàn rằng, tác phẩm nguyên gốc hay thế mà khi được chuyển sang tiếng Việt, đọc nghe rất trúc trắc, khó hiểu. Một vài dịch giả, theo phong cách hoặc quan điểm riêng của mình, cả tài năng nữa, sẽ làm việc này theo những phương thức khác nhau. Cho nên từ một văn bản gốc, nếu có nhiều bản dịch, người đọc sẽ được so sánh những văn phong khác nhau, thậm chí thấy được cả nhịp điệu, hơi văn. Tôi xin lấy ví dụ một đoạn trong cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của Nabokov là “Lolita” được hai người dịch để so sánh.

Nabokov viết: “His father and two grandfathers had sold wine, jewels and silk, respectively. At thirty he married an English girl, daughter of Jerome Dunn, the alpinist, and granddaughter of two Dorset parsons, experts in obscure subjects - paleopedology and Aeolian harps, respectively”.

Thiên Lương dịch: “Cha và hai ông của cha tôi buôn rượu vang, đồ trang sức và tơ lụa, theo thứ tự tương ứng. Năm ba mươi tuổi, ông cưới cô gái người Anh, con gái nhà leo núi Jerome Dunn và cháu gái hai mục sư vùng Dorset, chuyên gia về những đề tài ít ai biết đến - cổ thổ nhưỡng học và đàn phong hạc, theo thứ tự tương ứng”.

Dương Tường dịch: “Ông nội tôi kinh doanh rượu vang và hai cố nội tôi, một cụ bán đồ trang sức, một cụ mở cửa hàng tơ lụa. Năm ba mươi tuổi, cha tôi lấy một cô gái người Anh, con gái nhà leo núi Jerome Dunn và cháu gái một cặp vợ chồng mục sư ở giáo xứ Dorset, chuyên gia về những đề tài bí ẩn - cụ ông về cổ thổ nhưỡng học, cụ bà về đàn phong hạc”.

Tôi không quan tâm đến sự đúng sai của hai văn bản dịch nhưng về mặt nhịp điệu, tôi hài lòng với bản dịch của Dương Tường hơn. Đó là cách diễn đạt mềm mại, dễ chịu, đọc lên thấy câu văn nhịp nhàng, trơn tru và thuần Việt, có thể vì thế mà bản dịch của Dương Tường được số đông ưa thích hơn.

Và suy rộng ra, nhịp điệu là thứ có vẻ mơ hồ nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc mang tới sự hấp dẫn, mượt mà của những trang văn?

Uông Triều

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).