Nhà văn và vận mệnh Tổ quốc

Tập sách "Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược" của nhà báo, nhà văn Lê Văn Ba, với gần 1.500 trang in khổ to, là một công trình khảo cứu, nghiên cứu kỹ lưỡng và đầy đủ. Điều đáng ghi nhận, qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, có gần hai trăm nhà văn từng bị bắt bớ, tù đày trong các nhà tù của quân xâm lược. Con số này, chứng tỏ lòng yêu Tổ quốc của các nhà văn Việt Nam sâu đậm nhường nào.

Nhân đọc "Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược" của Lê Văn Ba, NXB Hội Nhà văn, 2015.

Trong cuộc cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc, nhà văn Việt Nam đã có nhiều đóng góp đáng kể. Không chỉ bằng các tác phẩm văn học, mà nhiều nhà văn đã chấp nhận hiểm nguy, họ đã dấn thân hoạt động như một chiến sỹ cách mạng thực thụ. Không ít nhà văn đã phải trải qua tù đày với các trò tra tấn cực hình của quân xâm lược.

Tập sách "Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược" của nhà báo, nhà văn Lê Văn Ba, với gần 1.500 trang in khổ to, là một công trình khảo cứu, nghiên cứu kỹ lưỡng và đầy đủ. Điều đáng ghi nhận, qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, có gần hai trăm nhà văn từng bị bắt bớ, tù đày trong các nhà tù của quân xâm lược. Con số này, chứng tỏ lòng yêu Tổ quốc của các nhà văn Việt Nam sâu đậm nhường nào.

Tập sách chia làm ba phần. Phần một: Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân phương Bắc xâm lược dưới thời các triều đình phong kiến. Đó là các chí sỹ yêu nước, đồng thời là các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, như: Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Nguyễn Phi Khanh, Tuệ Tĩnh, Giang Văn Minh… Bài thơ "Cảm hoài" của Đặng Dung phản ánh khí tiết của một lớp người:

Việc đời bối rối tuổi già vay
Trời đất vô cùng một cuộc say
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa
Giáp gột sông trời khó vạch mây
Thù trả chưa xong đầu đã bạc
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

(Phan Kế Bính dịch)

Phần hai: Nhà văn Việt Nam bị bắt giam trong các nhà tù của thực dân Pháp, phát xít Nhật. Đây là thời kỳ rất nhiều nhà văn, nhà thơ bị bắt giam trong các nhà tù trong nước. Như nhà tù Hỏa Lò, nhà tù Sơn La, nhà tù Côn Đảo… Một số người còn bị bắt  giam ở các nhà tù nước ngoài, như nhà tù La Santé, La Roquette (Pháp), đảo tù Guyane (Nam Mỹ), Madagasca (châu Phi), nhà tù Quảng Châu, Liễu Châu (Trung Quốc)…

Nhiều người nổi tiếng, như Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Nguyễn Hữu Huân, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh… cho đến Tản Đà, Ngô Tất Tố, Đặng Thai Mai, Lan Khai, Trúc Khê, Tố Hữu, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Thôi Hữu, Hải Triều… đều đã phải trải qua tù đày tại các nhà tù của quân xâm lược. Bài thơ "Nhắn bạn" của Hoàng Văn Thụ được viết trong xà lim tử hình Hỏa Lò, Hà Nội năm 1944, mang đầy khí phách của một nhà thơ, nhà cách mạng;

Việc nước xưa nay có bại thành
Miễn sao giữ trọn được thanh danh
Phục thù chí lớn không hề nản
Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành.
Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm
Chí còn theo đuổi mộng tung hoành
Hỡi bạn gần xa hăng chiến đấu
Trước sau xin giữ tấm lòng thành.

Tuy thân gái liễu yếu đào tơ, lại là một tiểu thư Hà Nội, nữ sỹ Vân Đài khi bị bắt giam trong nhà tù hiến binh Nhật (1944), đã viết bài thơ mang đầy khí phách, cốt cách của mình:

Năm tám ngày giam trại hiến binh
Bao nhiêu hình phạt vẫn xem khinh
Roi tra điện kẹp, càng căm uất
Xích sắt cùm lim, phớt cực hình…

Tố Hữu, nhà thơ cách mạng, năm 1939, năm ông 19 tuổi, bị thực dân Pháp bắt, từng bị giam trong các nhà giam ở Thừa Phủ, Lao Bảo, Đakmin… Năm 1942, ông vượt ngục và tiếp tục hoạt động, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại thành phố Huế quê hương ông. Những bài thơ trong tù của Tố Hữu đã tạo ra sức mạnh cho hàng ngàn, hàng vạn chiến sỹ, được tập hợp in trong tập "Thơ" (1946), sau này tuyển chọn in trong phần Xiềng xích ở cuốn thơ "Từ ấy" (1959). Nhà thơ Sóng Hồng (tức nhà cách mạng Trường Chinh) từng đánh giá "Thơ Tố Hữu có sức mạnh to lớn, chinh phục được hàng triệu trái tim quần chúng".

Nguyễn Đình Thi, một người tài hoa trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật như: thơ, văn, kịch, nhạc… Ông cũng là người tham gia cách mạng ngay từ thời trẻ tuổi. Ông đã hai lần bị bọn giặc bắt giam. Năm 18 tuổi (1942) bị giam ở Trại giam sở mật thám Hải Phòng. Năm 1943, bị giam ở nhà tù Nam Định, nhà tù Hỏa Lò.

Nhà văn Nguyên Hồng, nhà văn của những người thống khổ, cũng từng hai lần bị giặc bắt vào tù. Năm 1939, bị giam ở nhà tù Hải Phòng. Năm 1940, bị đày lên trại Bắc Mê (Hà Giang). Chính những năm tháng tù đày khốc liệt này đã cho nhà văn nhiều thực tế để viết nên những tác phẩm phản ánh sinh động về nhà tù, như: "Tết của tù đàn bà" (1939), "Cuộc sống" (1943).

Nhà phê bình văn học Hải Triều, ngoài việc viết những bài chính luận sắc bén về quan điểm nghệ thuật, từng in trên các báo Cờ đỏ, Tin Tức, Dân, Hồn trẻ… ông còn là nhà hoạt động cách mạng từ rất sớm. Năm 1931, đang ở Sài Gòn, ông bị thực dân Pháp bắt đưa về Huế xử kết án 9 năm tù khổ sai và 8 năm quản thúc. Ông đã để lại những tác phẩm tiêu biểu, như "Duy tâm hay duy vật" (1935), "Văn sĩ và xã hội" (1937), tuyển tập "Về văn học nghệ thuật" xuất bản sau khi ông mất.

Nhà văn, nhà viết kịch Học Phi, quê ở Hưng Yên, 15 tuổi, đã tham gia hoạt động cách mạng. Ông từng bị giam ở nhà giam Hưng Yên, nhà tù Hỏa Lò. Năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Hưng Yên. Ngoài việc hoạt động cách mạng, ông còn viết nhiều tiểu thuyết, nhiều vở kịch công diễn rộng rãi trong quần chúng, góp phần tạo sức mạnh cho quân dân chiến thắng quân xâm lược.

Nhà thơ Chu Hà, năm 1939 bị kết án ba năm tù tại nhà tù Sơn La. Năm 1944, ông lại bị bắt lần thứ hai. Trong thời gian bị giam tù ở nhà tù Sơn La, ông từng tham gia biên tập Báo Suối reo. Những bài "Xuân nở trong tù", "Đêm xà lim"… về sau được đưa vào sách giáo khoa, các tuyển tập văn học cách mạng. Nhà thơ Hoàng Công Khanh từng bị tù giam tại nhà tù Sơn La.

Nhà thơ Vĩnh Mai từng bị tù tại nhà tù Lao Bảo. Nhà văn Tô Hoài từng bị giam tại nhà tù Nam Định, nhà tù Hỏa Lò. Nhà văn lãng tử Nguyễn Tuân cũng từng hai lần bị quân xâm lược bắt vào tù tại Sài Gòn, Nam Định. Quỳnh Dao, nhà thơ của "Trường thơ loạn", bạn thân của nhà thơ Hàn Mặc Tử, sớm tham gia cách mạng nên cũng bị bắt tù giam tại nhà tù Hỏa Lò. Trong nhà tù, Quỳnh Dao vẫn nhiệt huyết viết báo, làm thơ để cổ vũ cách mạng. Ông cũng là người được ban chỉ huy vượt ngục đêm 10-3-1945 xếp vào đội ngũ đầu tiên chui cống ngầm vượt ngục cùng các đồng chí Đỗ Mười, Thôi Hữu…

Phần ba của cuốn sách viết về các nhà văn bị bắt, tù giam trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam nước ta. Đó là các nhà văn Vũ Hạnh, Sơn Nam, Trần Kim Trắc, Lê Vĩnh Hòa, Võ Quê, Chim Trắng, Viễn Phương, Trần Quang Long, Ngô Kha…

Năm 1955, Nguyễn Đức Dũng (tên thật của nhà văn Vũ Hạnh) từng bị tù giam tại trại giam Chợ Được, Quảng Nam. Những ngày trong nhà tù, cảm kích trước tấm gương kiên trung bất khuất, chấp nhận sự hy sinh cho cách mạng của người bạn tù, về sau, ông đã lấy tên người bạn tù hy sinh đó, là Vũ Hạnh, để làm bút danh cho mình. Nhà văn Sơn Nam, nhà văn của đồng đất và sông nước Nam Bộ cũng đã ba lần bị quân xâm lược bắt tù giam. Chính thời gian trong tù, ông đã viết bài thơ "Hương rừng Cà Mau", khởi hứng cảm xúc để sau này ông viết tập văn xuôi đặc sắc "Hương rừng Cà Mau".

Nhà thơ Trần Quang Long, một người hoạt động tích cực trong phong trào thanh niên, sinh viên đấu tranh ở thành thị miền Nam. Năm 1963, Trần Quang Long bị bắt giam. Năm 1964, ông lại bị bắt tù vì bài thơ "Hồi kết cuộc" đăng trên báo Dân. Nhà thơ Ngô Kha, người Huế, sinh năm 1935, mất năm 1973, đã ba lần bị địch bắt giam cuối cùng bị thủ tiêu. Tuy thời gian sống ngắn ngủi, vậy mà Ngô Kha đã để lại cho đời một số tác phẩm văn học tiêu biểu: "Hoa cô độc" (1961), "Ngụ ngôn người đãng trí" (1969), "Trường ca Hòa bình" (1969)…

Tác giả cuốn "Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược" là nhà báo, nhà văn Lê Văn Ba. Ông là tác giả của hàng trăm bài báo và hơn chục cuốn sách văn học. Riêng viết về nhà tù, Lê Văn Ba đã cho xuất bản: "Kể chuyện nhà tù Hỏa Lò" (2004), "Thơ viết trong nhà tù Hỏa Lò" (2006), "Nhà tù Hỏa Lò, trường học yêu nước và cách mạng" (2009)… Điều đặc biệt, ông cũng đã từng bị quân xâm lược bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò năm 1952, vì tội tham gia hoạt động học sinh, sinh viên kháng chiến Hà Nội. Vì thế, cuốn sách được ra đời trong thực tế tươi ròng và sống động của tác giả.

Việc tổ chức, sắp xếp tư liệu công phu và khoa học. Với tiêu chí những nhà văn Việt Nam từng trong nhà tù quân xâm lược nên tác giả chỉ lấy các nhà văn từng bị quân xâm lược bắt tù, xếp thứ tự các nhà văn theo thời gian bị vào tù. Đồng thời, trích giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của mỗi tác giả viết trong tù, hoặc viết về nhà tù. Vì thế, người đọc dễ cảm nhận và dễ hệ thống kiến thức. Cuốn sách "Nhà văn Việt Nam trong nhà tù quân xâm lược" đã góp phần khẳng định vai trò, vị trí và sự đóng góp của các nhà văn Việt Nam với vận mệnh Tổ quốc.

Tháng 7/2015

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).