Nhà thơ Hữu Việt: Người có nhiều thứ để “chơi”

Những câu thơ ngỡ như tản mạn mà lại rất tập trung, đã được Hữu Việt rút tỉa và xâu chuỗi lại, gây được ấn tượng mạnh trước cả trăm con người của Đoàn công tác số 8 trong chuyến ra khơi hiếm hoi ấy. Và nói theo cách nói của nữ sĩ W. Szymborska – người đoạt Giải Nobel văn học 1996, đối với mọi người nói chung và Hữu Việt nói riêng, thì qua chuyến đi này, quả là “không có gì hai lần” thật!

1. Cách nay 2 năm, trong bút ký “Nơi Tổ quốc đến tận cùng”, tôi đã viết: “Có một sự ngẫu nhiên đã xảy ra. Vào dịp 30 tháng 4 và mùng 7 tháng 5 năm nay, tôi nhập vào lòng biển cả và đi Trường Sa. Cũng vào những ngày này (năm 1975), sau khi miền Nam (phần đất liền) hoàn toàn giải phóng không lâu, bất ngờ đơn vị tôi (D2012 thuộc E1 Quân khu 9) nhận được lệnh “báo động chiến đấu”. Chúng tôi đã cấp tốc lên máy bay vận tải C130 bay từ sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) ra Phú Quốc, rồi từ Phú Quốc ra đảo chiến đấu, giải phóng nốt phần lãnh hải còn lại của Tổ quốc.

Lần đầu tiên, tôi biết cảm giác thế nào là “bay” và cũng lần đầu tiên, tôi biết cảm giác thế nào là “say sóng”. Chỉ có khác, ngày ấy tôi là lính chiến, còn bây giờ là người đi thăm biển đảo. Chỉ có khác, ngày ấy tôi là người lính, còn bây giờ là nhà văn, nhà báo. Chỉ có khác, ngày ấy tôi mới U20, còn bây giờ đã U60.

Ngày chúng tôi lên đảo Cô Lin thì tận mắt nhìn thấy tàu chiến của Trung Quốc từ phía Gạc Ma (đảo bị Trung Quốc xâm chiếm của ta từ năm 1988). Đã có 64 chiến sĩ công binh của ta, trong tay không có vũ khí, bị Trung Quốc dùng súng lớn sát hại. Trước khi hy sinh oanh liệt, những người lính đã giữ khí phách bằng cách quấn lá cờ Tổ quốc quanh mình. Những lá cờ Tổ quốc thêm một lần nữa thấm máu của những người giữ đảo, giữ biển.

Nỗi căm giận của chúng tôi bất chợt trào dâng khi hai tàu chiến của Trung Quốc bất ngờ đổi hướng, chĩa súng vào đảo Cô Lin. Rồi tự sâu thẳm, tự thân tôi thốt lên: “Những Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn/ Những Đá Nam, Đá Thị, Bàn Than, Cô Lin và cả Gạc Ma/ Sáu mươi tư người lính ngã xuống/ Hai sáu năm rồi không nhắm mắt/ Hai sáu năm rồi/ Máu chảy giữa lòng ta…”.

Ngang qua Gạc Ma, Đoàn công tác số 8 đã làm lễ tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì biển đảo. Chúng tôi đã làm lễ dâng hương, bái vọng và thả những bông hoa cúc xuống biển. Đã có nhiều người không cầm được nước mắt.

Ngày chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình ngang qua Vũng Tàu thì hay tin: Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 nằm sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đi cùng với giàn khoan này là những tàu vũ trang, tàu quân sự, máy bay... Đó là một hành động mang tính chất gây hấn và xâm lược. Vậy là tinh thần quyết gìn giữ biển đảo quê hương nói riêng và tinh thần yêu nước của người Việt Nam lại thêm một lần thử thách!”.

Đó cũng là lần tôi có dịp được sát cánh cùng một nhóm nhà văn, nhà thơ kiêm nhà báo, trong đó có thi sĩ Hữu Việt. Chúng tôi đã thực sự “ăn sóng gió”, “ngủ sóng gió”, “thở sóng gió”, “tác nghiệp sóng gió”  và chỉ không “ăn sóng nói gió” mà thôi.

Nhà thơ Hữu Việt trên đảo Trường Sa.
Nhà thơ Hữu Việt trên đảo Trường Sa.

Tôi đã chứng kiến một Hữu Việt năng nổ, xông xáo, cập nhật và luôn ưa khám phá, phát hiện những cái mới, cái lạ từ Trường Sa. Những ngày ấy, hầu như lúc nào Hữu Việt cũng tay máy, tay bút, tay bàn phím vào cuộc. Hữu Việt là người “nổ” phát súng pháo hiệu sáng tác đầu tiên với cả đoàn bằng bài thơ “Thư Song Tử Tây” thật tinh tế, lãng mạn và kịp thời. Sau khi Hữu Việt “tiền hô”, lập tức nhạc sĩ Vũ Thiết “hậu ủng” ngay. “Thư Song Tử Tây” được phổ nhạc thành ca khúc mang một cái tên “mở rộng” hơn, “khái quát” hơn: “Thư Trường Sa”.

Rồi ca sĩ Đặng Hiếu – người của Đoàn Ca múa Hải Đăng – một thành viên như chúng tôi, đã hát phục vụ các chiến sĩ Trường Sa ngay trong những ngày nóng bỏng ấy. Cũng nhờ khả năng ứng biến và khả năng tương tác, kết nối mà trong cơn ngẫu hứng, Hữu Việt đã nghĩ ngay đến một kịch thơ ngắn hướng về Trường Sa với lời dẫn của nhà văn Võ Thị Xuân Hà và trình diễn ngay trên con tàu HQ 996.

Những câu thơ ngỡ như tản mạn mà lại rất tập trung, đã được Hữu Việt rút tỉa và xâu chuỗi lại, gây được ấn tượng mạnh trước cả trăm con người của Đoàn công tác số 8 trong chuyến ra khơi hiếm hoi ấy. Và nói theo cách nói của nữ sĩ W. Szymborska – người đoạt Giải Nobel văn học 1996, đối với mọi người nói chung và Hữu Việt nói riêng, thì qua chuyến đi này, quả là “không có gì hai lần” thật!

2.  Hữu Việt nhắc đến một kỷ niệm: “Cho đến những năm 1982 - 1983, khi đã 20 tuổi, tôi vẫn chưa nghĩ đến sau này mình sẽ gắn bó với văn chương. Hồi ấy, tôi thi vào Đại học Ngoại thương và nghĩ rất đơn giản: Nên biết ngoại thương, ngoại ngữ để dễ dàng cho sự mưu sinh sau này. Sau đó, vì thi đủ điểm nên tôi trở thành sinh viên du học ở Trường đại học Giao thông Khác-cốp (Ucraina – Liên Xô cũ).

Nhiều năm, sinh viên ta ở Trường Đại học Giao thông Khác-cốp không ra nổi một tờ bích báo như ở nhiều trường đại học khác. Thế là vào một dịp 26 – 3, vì lòng tự trọng và “máu” thi đua trỗi dậy, tôi góp vài bài thơ và đứng ra trong vai trò “chủ bút” một tờ báo tường. Rồi không ngờ tờ báo tường của trường chúng tôi đoạt giải nhất thành phố  trong cộng đồng sinh viên Việt Nam năm ấy, thế mới vui!”

Con đường đến với thi ca của Hữu Việt có vẻ rất bài bản và kỹ lưỡng. Hữu Việt nhớ lại: “Ban đầu, qua cha tôi (nhà văn Hữu Mai), tôi được gặp nhà thơ Khương Hữu Dụng và may mắn được ông coi như con cháu trong nhà. Lúc này, ông đang có ý định dịch lại tác phẩm “Khúc ca về cuộc hành binh của Igor” từ tiếng Nga cổ ra tiếng Việt. Bởi thế mà ông mới nhờ tôi giúp dịch thô trường ca này.

Và tôi đã làm theo ý ông. Đọc xong, ông bảo: “Có nhiều đoạn tuy cháu dịch thô nhưng đã là thơ rồi đấy”. Từ đó ông bắt đầu truyền cho tôi những kiến thức cơ bản về nghề thơ. Một thời gian sau, ông nửa đùa nửa thật bảo tôi: “Giờ bác đã cạn vốn rồi, cũng chẳng còn gì mà truyền thêm cho cháu nữa. Để bác sẽ giới thiệu cho cháu… cái ông này. Nếu ông này nhận lời, thì cháu cứ yên tâm mà đi tiếp”.

Sau đó, tôi mới biết “cái ông này” mà nhà thơ Khương Hữu Dụng nhắc đến chính là nhà thơ Lê Đạt. Phải trải qua thử thách dăm lần kiểu xem xét tư cách và năng khiếu của học trò, thầy Lê Đạt mới “truyền nghề” tiếp cho tôi. Tôi vẫn nhớ lần đầu nhà thơ Khương Hữu Dụng dắt tôi đến gặp nhà thơ Lê Đạt là vào dịp Tết năm Canh Ngọ (1990).

Khi chia tay ông bảo: “Thỉnh thoảng nhớ ghé chơi” và tặng tôi một tập thơ in chung với Dương Tường nhưng mang một cái tên cũng rất Lê Đạt: “Ba mươi sáu bài tình” kèm lời đề tặng rất khác lạ hồi ấy: “Của Hữu Việt. Năm Con Ngựa”. Ông không viết năm Canh Ngọ theo cách thông thường. Lê Đạt bao giờ cũng vậy, ông ít khi dùng chữ có sẵn, mà chữ của ông là chữ “tạo sinh” đôi khi cực đoan theo cách nói của nhà nghiên cứu văn học nào đó”.

Nhưng có lẽ Hữu Việt nhớ nhất là bài thơ “Bóng chữ” trong tập thơ cùng tên của Lê Đạt. Bài thơ cho thấy khả năng “điều chữ khiển nghĩa” đến mức kỳ khu, tuy tinh tế, linh hoạt, biến hóa khôn lường của hình thức mà vẫn nặng một chữ tình của một tài thơ:

Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng cong đầy khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùa hương đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu 

Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu.

Đấy là chuyện sau này. Còn trước đó, chính sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp từ người cha, quá trình tiếp xúc với nhiều nhà văn, nhà thơ và quá trình tích lũy, nghiền ngẫm sách văn học mà Hữu Việt đã được truyền cảm hứng để đến và tạo ra một xuất phát thi ca. Hữu Việt trầm ngâm: “Nhờ “thêm vào” cái tâm trạng xa nhà, nhớ nhung đất nước, “thêm vào” sự trân trọng với cái chất nhân văn của nhiều nhà văn, nhà thơ lớp trước, rồi tất cả như hòa quyện vào nhau, mà cảm hứng đến với thi ca của tôi trở nên mạnh mẽ và tự nhiên, tự thân hơn từ lúc nào không biết”.

3.  Hữu Việt là người làm nhiều nghề: Giáo viên dạy tiếng Nga, cán bộ Công ty Xuất nhập khẩu công nghệ mới thuộc Viện Công nghệ Quốc gia, rồi phóng viên, biên tập viên, cán bộ quản lý của các báo: Tiền Phong, Vietnamnet, Phụ nữ Thủ đô, Nhân Dân.

Anh bảo: “Tôi vốn không phải là người ưa thay đổi. Mỗi khi thay đổi với tôi là để thử sức mình trong một lĩnh vực mới hoặc tìm lại  động lực mới cho công việc. Lúc nào, tôi cũng đinh ninh lời dạy của cha tôi: “Ở đời, làm cái gì cũng nên tới nơi tới chốn, còn cứ dở dở dang dang thì không ổn đâu”.

Sinh thời, ông là người luôn tôn trọng sự lựa chọn của các con. Khi thấy tôi vừa làm kinh tế, vừa tấp tểnh vào nghiệp viết lách, ông bảo: “Viết văn là một nghề vất vả. Nếu định trở thành nhà văn, thì phấn đấu để trở thành người viết giỏi, chứ nếu chỉ là người viết trung bình thôi thì buồn lắm”. Lời dạy này của ông tôi luôn ghi nhớ để tự răn mình”.

Ngoài làm báo, viết văn, làm thơ, chụp ảnh… Hữu Việt còn tham gia nhiều hoạt động xã hội khác. Anh là một MC rất hoạt. Đã có thời gian dài công tác ở Báo Tiền Phong nên anh thường được mời tham gia Ban giám khảo của cuộc thi “Hoa hậu Việt Nam” do Báo Tiền Phong tổ chức. Trong cuộc sống nói chung, anh là người dễ gần, dễ mến, có chính kiến và phục thiện.

Riêng trong địa hạt văn chương, Hữu Việt có nhiều thứ để “chơi”. Anh vừa là nhà thơ, lại vừa là một dịch giả. Đến nay, anh cho xuất bản hai tập thơ mang hai cái tên rất khác người: “Phố Lạc Tiên” và “Đếm mùa”. Anh bảo: “Thơ tôi viết rất đều nhưng đăng, in rất ít. Cần phải có sự biên tập rất kỹ, kiểm soát rất kỹ từ ngay bản thân người viết trước khi xuất hiện trước độc giả.”

Cách nay gần một chục năm, Hữu Việt là người chuyển ngữ thành công tập thơ “Khúc hát trái tim” của thần đồng thơ Mỹ J. T. Stepanek từ tiếng Anh sang tiếng Việt và gây ra hiệu ứng tức thì. Tập thơ dịch này đã được Hội Nhà văn trao giải thưởng thường niên vào năm 2007 cùng với tiểu thuyết “Và khi tro bụi” của nữ nhà văn Đoàn Kim Phượng.

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...