Nhà thơ Hữu Việt: Người có nhiều thứ để “chơi”

Những câu thơ ngỡ như tản mạn mà lại rất tập trung, đã được Hữu Việt rút tỉa và xâu chuỗi lại, gây được ấn tượng mạnh trước cả trăm con người của Đoàn công tác số 8 trong chuyến ra khơi hiếm hoi ấy. Và nói theo cách nói của nữ sĩ W. Szymborska – người đoạt Giải Nobel văn học 1996, đối với mọi người nói chung và Hữu Việt nói riêng, thì qua chuyến đi này, quả là “không có gì hai lần” thật!

1. Cách nay 2 năm, trong bút ký “Nơi Tổ quốc đến tận cùng”, tôi đã viết: “Có một sự ngẫu nhiên đã xảy ra. Vào dịp 30 tháng 4 và mùng 7 tháng 5 năm nay, tôi nhập vào lòng biển cả và đi Trường Sa. Cũng vào những ngày này (năm 1975), sau khi miền Nam (phần đất liền) hoàn toàn giải phóng không lâu, bất ngờ đơn vị tôi (D2012 thuộc E1 Quân khu 9) nhận được lệnh “báo động chiến đấu”. Chúng tôi đã cấp tốc lên máy bay vận tải C130 bay từ sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) ra Phú Quốc, rồi từ Phú Quốc ra đảo chiến đấu, giải phóng nốt phần lãnh hải còn lại của Tổ quốc.

Lần đầu tiên, tôi biết cảm giác thế nào là “bay” và cũng lần đầu tiên, tôi biết cảm giác thế nào là “say sóng”. Chỉ có khác, ngày ấy tôi là lính chiến, còn bây giờ là người đi thăm biển đảo. Chỉ có khác, ngày ấy tôi là người lính, còn bây giờ là nhà văn, nhà báo. Chỉ có khác, ngày ấy tôi mới U20, còn bây giờ đã U60.

Ngày chúng tôi lên đảo Cô Lin thì tận mắt nhìn thấy tàu chiến của Trung Quốc từ phía Gạc Ma (đảo bị Trung Quốc xâm chiếm của ta từ năm 1988). Đã có 64 chiến sĩ công binh của ta, trong tay không có vũ khí, bị Trung Quốc dùng súng lớn sát hại. Trước khi hy sinh oanh liệt, những người lính đã giữ khí phách bằng cách quấn lá cờ Tổ quốc quanh mình. Những lá cờ Tổ quốc thêm một lần nữa thấm máu của những người giữ đảo, giữ biển.

Nỗi căm giận của chúng tôi bất chợt trào dâng khi hai tàu chiến của Trung Quốc bất ngờ đổi hướng, chĩa súng vào đảo Cô Lin. Rồi tự sâu thẳm, tự thân tôi thốt lên: “Những Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn/ Những Đá Nam, Đá Thị, Bàn Than, Cô Lin và cả Gạc Ma/ Sáu mươi tư người lính ngã xuống/ Hai sáu năm rồi không nhắm mắt/ Hai sáu năm rồi/ Máu chảy giữa lòng ta…”.

Ngang qua Gạc Ma, Đoàn công tác số 8 đã làm lễ tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì biển đảo. Chúng tôi đã làm lễ dâng hương, bái vọng và thả những bông hoa cúc xuống biển. Đã có nhiều người không cầm được nước mắt.

Ngày chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình ngang qua Vũng Tàu thì hay tin: Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 nằm sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đi cùng với giàn khoan này là những tàu vũ trang, tàu quân sự, máy bay... Đó là một hành động mang tính chất gây hấn và xâm lược. Vậy là tinh thần quyết gìn giữ biển đảo quê hương nói riêng và tinh thần yêu nước của người Việt Nam lại thêm một lần thử thách!”.

Đó cũng là lần tôi có dịp được sát cánh cùng một nhóm nhà văn, nhà thơ kiêm nhà báo, trong đó có thi sĩ Hữu Việt. Chúng tôi đã thực sự “ăn sóng gió”, “ngủ sóng gió”, “thở sóng gió”, “tác nghiệp sóng gió”  và chỉ không “ăn sóng nói gió” mà thôi.

Nhà thơ Hữu Việt trên đảo Trường Sa.
Nhà thơ Hữu Việt trên đảo Trường Sa.

Tôi đã chứng kiến một Hữu Việt năng nổ, xông xáo, cập nhật và luôn ưa khám phá, phát hiện những cái mới, cái lạ từ Trường Sa. Những ngày ấy, hầu như lúc nào Hữu Việt cũng tay máy, tay bút, tay bàn phím vào cuộc. Hữu Việt là người “nổ” phát súng pháo hiệu sáng tác đầu tiên với cả đoàn bằng bài thơ “Thư Song Tử Tây” thật tinh tế, lãng mạn và kịp thời. Sau khi Hữu Việt “tiền hô”, lập tức nhạc sĩ Vũ Thiết “hậu ủng” ngay. “Thư Song Tử Tây” được phổ nhạc thành ca khúc mang một cái tên “mở rộng” hơn, “khái quát” hơn: “Thư Trường Sa”.

Rồi ca sĩ Đặng Hiếu – người của Đoàn Ca múa Hải Đăng – một thành viên như chúng tôi, đã hát phục vụ các chiến sĩ Trường Sa ngay trong những ngày nóng bỏng ấy. Cũng nhờ khả năng ứng biến và khả năng tương tác, kết nối mà trong cơn ngẫu hứng, Hữu Việt đã nghĩ ngay đến một kịch thơ ngắn hướng về Trường Sa với lời dẫn của nhà văn Võ Thị Xuân Hà và trình diễn ngay trên con tàu HQ 996.

Những câu thơ ngỡ như tản mạn mà lại rất tập trung, đã được Hữu Việt rút tỉa và xâu chuỗi lại, gây được ấn tượng mạnh trước cả trăm con người của Đoàn công tác số 8 trong chuyến ra khơi hiếm hoi ấy. Và nói theo cách nói của nữ sĩ W. Szymborska – người đoạt Giải Nobel văn học 1996, đối với mọi người nói chung và Hữu Việt nói riêng, thì qua chuyến đi này, quả là “không có gì hai lần” thật!

2.  Hữu Việt nhắc đến một kỷ niệm: “Cho đến những năm 1982 - 1983, khi đã 20 tuổi, tôi vẫn chưa nghĩ đến sau này mình sẽ gắn bó với văn chương. Hồi ấy, tôi thi vào Đại học Ngoại thương và nghĩ rất đơn giản: Nên biết ngoại thương, ngoại ngữ để dễ dàng cho sự mưu sinh sau này. Sau đó, vì thi đủ điểm nên tôi trở thành sinh viên du học ở Trường đại học Giao thông Khác-cốp (Ucraina – Liên Xô cũ).

Nhiều năm, sinh viên ta ở Trường Đại học Giao thông Khác-cốp không ra nổi một tờ bích báo như ở nhiều trường đại học khác. Thế là vào một dịp 26 – 3, vì lòng tự trọng và “máu” thi đua trỗi dậy, tôi góp vài bài thơ và đứng ra trong vai trò “chủ bút” một tờ báo tường. Rồi không ngờ tờ báo tường của trường chúng tôi đoạt giải nhất thành phố  trong cộng đồng sinh viên Việt Nam năm ấy, thế mới vui!”

Con đường đến với thi ca của Hữu Việt có vẻ rất bài bản và kỹ lưỡng. Hữu Việt nhớ lại: “Ban đầu, qua cha tôi (nhà văn Hữu Mai), tôi được gặp nhà thơ Khương Hữu Dụng và may mắn được ông coi như con cháu trong nhà. Lúc này, ông đang có ý định dịch lại tác phẩm “Khúc ca về cuộc hành binh của Igor” từ tiếng Nga cổ ra tiếng Việt. Bởi thế mà ông mới nhờ tôi giúp dịch thô trường ca này.

Và tôi đã làm theo ý ông. Đọc xong, ông bảo: “Có nhiều đoạn tuy cháu dịch thô nhưng đã là thơ rồi đấy”. Từ đó ông bắt đầu truyền cho tôi những kiến thức cơ bản về nghề thơ. Một thời gian sau, ông nửa đùa nửa thật bảo tôi: “Giờ bác đã cạn vốn rồi, cũng chẳng còn gì mà truyền thêm cho cháu nữa. Để bác sẽ giới thiệu cho cháu… cái ông này. Nếu ông này nhận lời, thì cháu cứ yên tâm mà đi tiếp”.

Sau đó, tôi mới biết “cái ông này” mà nhà thơ Khương Hữu Dụng nhắc đến chính là nhà thơ Lê Đạt. Phải trải qua thử thách dăm lần kiểu xem xét tư cách và năng khiếu của học trò, thầy Lê Đạt mới “truyền nghề” tiếp cho tôi. Tôi vẫn nhớ lần đầu nhà thơ Khương Hữu Dụng dắt tôi đến gặp nhà thơ Lê Đạt là vào dịp Tết năm Canh Ngọ (1990).

Khi chia tay ông bảo: “Thỉnh thoảng nhớ ghé chơi” và tặng tôi một tập thơ in chung với Dương Tường nhưng mang một cái tên cũng rất Lê Đạt: “Ba mươi sáu bài tình” kèm lời đề tặng rất khác lạ hồi ấy: “Của Hữu Việt. Năm Con Ngựa”. Ông không viết năm Canh Ngọ theo cách thông thường. Lê Đạt bao giờ cũng vậy, ông ít khi dùng chữ có sẵn, mà chữ của ông là chữ “tạo sinh” đôi khi cực đoan theo cách nói của nhà nghiên cứu văn học nào đó”.

Nhưng có lẽ Hữu Việt nhớ nhất là bài thơ “Bóng chữ” trong tập thơ cùng tên của Lê Đạt. Bài thơ cho thấy khả năng “điều chữ khiển nghĩa” đến mức kỳ khu, tuy tinh tế, linh hoạt, biến hóa khôn lường của hình thức mà vẫn nặng một chữ tình của một tài thơ:

Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng cong đầy khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùa hương đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu 

Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu.

Đấy là chuyện sau này. Còn trước đó, chính sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp từ người cha, quá trình tiếp xúc với nhiều nhà văn, nhà thơ và quá trình tích lũy, nghiền ngẫm sách văn học mà Hữu Việt đã được truyền cảm hứng để đến và tạo ra một xuất phát thi ca. Hữu Việt trầm ngâm: “Nhờ “thêm vào” cái tâm trạng xa nhà, nhớ nhung đất nước, “thêm vào” sự trân trọng với cái chất nhân văn của nhiều nhà văn, nhà thơ lớp trước, rồi tất cả như hòa quyện vào nhau, mà cảm hứng đến với thi ca của tôi trở nên mạnh mẽ và tự nhiên, tự thân hơn từ lúc nào không biết”.

3.  Hữu Việt là người làm nhiều nghề: Giáo viên dạy tiếng Nga, cán bộ Công ty Xuất nhập khẩu công nghệ mới thuộc Viện Công nghệ Quốc gia, rồi phóng viên, biên tập viên, cán bộ quản lý của các báo: Tiền Phong, Vietnamnet, Phụ nữ Thủ đô, Nhân Dân.

Anh bảo: “Tôi vốn không phải là người ưa thay đổi. Mỗi khi thay đổi với tôi là để thử sức mình trong một lĩnh vực mới hoặc tìm lại  động lực mới cho công việc. Lúc nào, tôi cũng đinh ninh lời dạy của cha tôi: “Ở đời, làm cái gì cũng nên tới nơi tới chốn, còn cứ dở dở dang dang thì không ổn đâu”.

Sinh thời, ông là người luôn tôn trọng sự lựa chọn của các con. Khi thấy tôi vừa làm kinh tế, vừa tấp tểnh vào nghiệp viết lách, ông bảo: “Viết văn là một nghề vất vả. Nếu định trở thành nhà văn, thì phấn đấu để trở thành người viết giỏi, chứ nếu chỉ là người viết trung bình thôi thì buồn lắm”. Lời dạy này của ông tôi luôn ghi nhớ để tự răn mình”.

Ngoài làm báo, viết văn, làm thơ, chụp ảnh… Hữu Việt còn tham gia nhiều hoạt động xã hội khác. Anh là một MC rất hoạt. Đã có thời gian dài công tác ở Báo Tiền Phong nên anh thường được mời tham gia Ban giám khảo của cuộc thi “Hoa hậu Việt Nam” do Báo Tiền Phong tổ chức. Trong cuộc sống nói chung, anh là người dễ gần, dễ mến, có chính kiến và phục thiện.

Riêng trong địa hạt văn chương, Hữu Việt có nhiều thứ để “chơi”. Anh vừa là nhà thơ, lại vừa là một dịch giả. Đến nay, anh cho xuất bản hai tập thơ mang hai cái tên rất khác người: “Phố Lạc Tiên” và “Đếm mùa”. Anh bảo: “Thơ tôi viết rất đều nhưng đăng, in rất ít. Cần phải có sự biên tập rất kỹ, kiểm soát rất kỹ từ ngay bản thân người viết trước khi xuất hiện trước độc giả.”

Cách nay gần một chục năm, Hữu Việt là người chuyển ngữ thành công tập thơ “Khúc hát trái tim” của thần đồng thơ Mỹ J. T. Stepanek từ tiếng Anh sang tiếng Việt và gây ra hiệu ứng tức thì. Tập thơ dịch này đã được Hội Nhà văn trao giải thưởng thường niên vào năm 2007 cùng với tiểu thuyết “Và khi tro bụi” của nữ nhà văn Đoàn Kim Phượng.

Đặng Huy Giang

Các tin khác

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Gặp họa sĩ Nguyễn Trường Linh tại xưởng vẽ ở phố Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi bất ngờ khi thấy anh thẫn thờ ngồi trước tác phẩm "Thương nhớ đồng quê". Tôi lặng lẽ ngồi kế bên ngắm hình những tàu lá chuối bị rách tả tơi vì mưa gió. Những viền vàng trên cây lá gợi nỗi buồn tàn úa man mác.

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm với tôi. Hôm đấy, chúng tôi hẹn nhau ra Hà Nội trong một sáng cuối đông. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy kỉ niệm. Buổi tối, chúng tôi lang thang cùng nhau ở Hà Nội, nói về văn chương và hành trình viết lách của nhau. Hóa ra cô gái đến từ núi đồi Gia Nghĩa (thuộc Đắk-Nông cũ) này khá đa năng với rất nhiều thể loại, và gặt hái nhiều thành công từ rất sớm.

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Theo nhánh tẻ của sông Đa Nhim, dưới chân núi Pnum Trom Ủ (thuộc xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng) có plei (buôn) Krănggọ nổi tiếng với nghề làm gốm mộc của người Churu. Theo lý giải của những người già, “Krăng” là tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ cái nồi đất. Tên buôn làng từ thuở xa xưa đã gắn với nghề gốm.

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Tại World Cup 2026, âm nhạc lần đầu tiên trở thành tiếng nói quan trọng, song hành cùng thể thao như ngôn ngữ chung để truyền tải thông điệp đặc biệt về tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng và tôn vinh nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều đó đã được phản ánh qua một bộ sưu tập nhạc nền đồ sộ cùng tham vọng biến sự kiện “thể thao vua” trở thành sân khấu giải trí hàng đầu thế giới.

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực Tương lai” của Việt Nam

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực tương lai” của Việt Nam

Tại Future Menus 2026, đơn vị tổ chức đã giới thiệu bốn xu hướng được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường ẩm thực toàn cầu trong thời gian tới. Đó là những xu hướng gợi mở giúp ngành ẩm thực Việt Nam phát triển. Bởi ẩm thực là một kênh hữu hiệu để thu hút du lịch và quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Chinh phục những địa hạt mới

Chinh phục những địa hạt mới

Vừa qua, bộ phim “Ốc mượn hồn” đã có màn ra mắt ấn tượng với khán giả cả nước. Không chỉ mang đến cho khán giả trải nghiệm điện ảnh mới mẻ, bộ phim còn là dấu ấn mới trên hành trình làm nghệ thuật của đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, sau 7 năm xa màn ảnh rộng.