(Nhân đọc tập thơ “Để còn nỗi nhớ” của nhà thơ Vũ Đức Thanh – NXB Hội Nhà văn 2020)

Người lặng lẽ dắt thơ đi

Nhiều người có chung nhận xét Vũ Đức Thanh là một nhà thơ tài hoa, sâu sắc. Sau các tập thơ “Mùa hoa cúc quỳ”, “Lặng im nhớ” thì “Để còn nỗi nhớ (NXB Hội Nhà văn, 2020) là tập thơ mới nhất của ông.

Vẫn giọng điệu thiết tha đau đáu với đời, khác chăng, ở tập thơ này, biên độ cảm xúc được mở rộng hơn, triết lý và suy ngẫm được chú trọng hơn. Điều đó chứng tỏ sự lao động miệt mài, nghiêm cẩn và sức sáng tạo không ngừng mà mỗi nhà thơ muốn trụ vững, cần phải ý thức trong thời buổi người làm thơ nhiều hơn người đọc thơ như hiện nay. 

Đọc tập thơ mới nhất của Vũ Đức Thanh, ta sẽ được trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, lắng lại là một hồn thơ da diết cất lên từ tiếng lòng sâu thẳm; là nỗi niềm đau đáu với thơ và trên hết là tình yêu quê hương đất nước…

Tình yêu quê hương, đất nước là một nội dung cảm động trong “Để còn nỗi nhớ”. Hỏi có ai sinh ra mà không yêu tha thiết nơi mình cất tiếng khóc chào đời? Tuy nhiên, mỗi người lại có những cách khác nhau để thể hiện tình yêu ấy. 

Với Vũ Đức Thanh, không ồn ào, to tát, tình yêu quê hương đất nước cứ âm ỉ, lặng lẽ chảy vào thơ như một mạch nguồn vô tận. Mà khởi đầu là tình yêu biển đảo Việt Nam. Bởi: “Biển đã thấm vào tâm hồn Lạc Việt/ Hóa thành hình đất nước dáng mẹ ta… Sữa của biển trắng nồng vị mặn/ Ta lớn lên từ vồng ngực mẹ Âu Cơ…” (Biển Việt Nam). 

Nghĩ về biển đảo, người thơ liên tưởng tới cội nguồn “Con rồng cháu Tiên” của người Việt mà ai ai cũng tự hào. Mỗi tấc đất, tấc biển là dáng hình đất nước, dáng mẹ thân yêu. Vì thế, giọng thơ càng thiết tha, đau đáu: “Em ơi/ Biển đảo liền trời/ Ngàn con sóng đất/ Sóng người/ Mà nên”. Câu thơ được ngắt ra bất thường, nghẹn ngào một tình yêu Tổ quốc, yêu biển đảo thiêng liêng. 

Tập thơ “Để còn nỗi nhớ” của nhà thơ Vũ Đức Thanh.
Tập thơ “Để còn nỗi nhớ” của nhà thơ Vũ Đức Thanh.

Mỗi bước chân ông đến, mỗi chặng đường đi qua, đều in đậm trong ông những cảm xúc, nghĩ suy… để rồi cảm hứng được thăng hoa, trào lên ngọn bút. Khi là nỗi day dứt: “Phù điêu duyên nợ/ Mà thành bão giông/ Cõi người dâu bể/ Lặng im Hòn Chồng” (Hòn chồng); lúc nặng trĩu yêu thương: “Ngày ta về với Sơn La/ Mây khiêng núi đến làm quà tặng em/ Dắt vì sao sáng nâng đêm/ Cữ này khéo lũ cũng lên nữa mà” (Sơn La); nhiều khi lại ngập tràn trong lòng thi sĩ một tình yêu khó bề cắt nghĩa: “Nắng chiều Ba Dội mưa hoa/ Lòng như tơ rối sương sa ráng vàng/ Ngó ta một cái sen tàn/ Trong veo, gió hỏi đâu làn hương xưa” (Dốc nắng). 

Tình yêu quê hương đất nước trong thơ Vũ Đức Thanh luôn gắn với lòng tự hào dân tộc. Từ cao nguyên đá Đồng Văn, cửa khẩu Lóng Sập, Sơn La, Tam Đảo, Nha Trang, Tây Nguyên… cho đến Ninh Bình đều ghi dấu trong thơ ông những vẻ đẹp nên thơ và một tình yêu bất tận. 

Ninh Bình là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều danh lam, thắng cảnh đã đi vào thơ ca, lòng người. Một trong những danh thắng đó là Dục Thúy sơn. Núi Dục Thúy thường được mệnh danh là “Núi Thơ”, vì trên vách đá, còn lưu lại nhiều bút tích của các “Tao nhân mặc khách”. Vũ Đức Thanh cũng có “Chùm thơ Dục Thúy Sơn” với bao hoài niệm về cảnh cũ người xưa. 

Biết là “Vũ trụ dĩ lai” (Núi có từ khi có vũ trụ đến nay) và: “Những buồn vui thiên cổ/ Vẫn y nguyên tới giờ”. Giữa thiên nhiên hùng vĩ gợi nhắc về những chứng tích hào hùng của một thời đã qua, tâm hồn thi nhân lại bâng khuâng xao xuyến, tìm lời đồng vọng: “Ta day dứt gục xuống miền ám ảnh/ Bỗng sấm truyền trong âm hưởng của đêm…”. Rồi xót xa, bất lực trước quy luật của thiên nhiên: “Sóng vỗ ngoài cửa Đáy/ Bóng núi cuộn dòng sâu/ Mà nước như dao chém/ Đá mòn lòng núi đau”… Mà trăn trở, tự vấn: “Ta làm gì hộ núi/ Ngay bây giờ/ Tại đây?”. Câu hỏi ấy như xoáy vào tâm can khiến người đọc không thôi day dứt cùng tác giả.

Thơ là tiếng nói của tâm hồn, tình cảm, thể hiện những rung động mãnh liệt của thi sĩ. Vậy nên, trong thơ “Tình là gốc” (Bạch Cư Dị). Chỉ khi nào có sự thôi thúc của tâm hồn thì khi ấy mới có thơ (theo đúng nghĩa). Đọc “Để còn nỗi nhớ”, ta sẽ gặp những cung bậc tình cảm khác nhau, tạo nên một hồn thơ trầm tĩnh, hồn hậu, giàu suy tưởng, chạm vào cõi sâu của tâm hồn - không chỉ bằng lý trí, mà còn bằng cảm xúc của trái tim. Tất nhiên, không phải bài nào, câu nào trong tập thơ cũng hay, nhưng cảm xúc đều chân thật.

“Thơ phát khởi từ lòng người” (Lê Quý Đôn). Mà lòng người đôi khi chính thi nhân cũng không thể lý giải được: “Một tôi, tôi nắm tay tôi/ Ngỡ vòng tay đợi một đời chưa xong” (Ru ta chớp bể). Ba chữ “tôi” trên cùng một dòng thơ, nhấn mạnh khoảnh khắc cô đơn, hụt hẫng của chủ thể trữ tình. 

Cũng có khi người thơ lại muốn làm cái việc “khác thường” mà chỉ thi nhân mới có thể làm được: “Vén mây mà dắt trăng vào/ Cất đi này cái nghẹn ngào gió mưa”. Và nữa: “Lặng buồn nâng chén cô đơn/ Ngang trời một vệt buồn hơn nỗi buồn” (Cảm thông và sẻ chia cùng bác Lê Lựu). Cách so sánh lạ, có vẻ vô lý (buồn hơn nỗi buồn) nhưng hợp lý, diễn tả cái tận cùng của nỗi buồn.

Nhớ nhung, buồn vui, hờn giận là những tình cảm có khi chỉ đến bất chợt: “Mưa xuân cong sợi khói/ Ai buộc chiều nhớ mong” (Mưa xuân); có khi lại được nuôi dưỡng bằng cả đời người, đời thơ, dù “Nhớ cứ thổi rỗng chiều sơn cước”, mặc cho: “Em gom hết hương trời Tam Đảo ấy/ Xé cho ta mảnh nhớ/ Rồi em quên” (Tam Đảo em và thơ), người thơ vẫn xác quyết: “Dỡ cho xong cái dậu thưa/ Cho hoa kịp nở giữa mùa hương say”: Phải chăng, nhà thơ quyết tâm phá bỏ những cái cũ kĩ, sáo mòn, đợi chờ niềm vui từ cuộc sống và thi ca? Có thể lắm chứ, bởi “Sườn non én dệt lối ngày sang xuân” (Lời tháng chạp), nghĩa là hy vọng sẽ mở ra, dù người chưa kịp về, có sao đâu? Vì đợi chờ, hy vọng cũng là một phẩm chất của tình yêu đó thôi. 

Dù những day dứt đời thường ít nhiều để lại những vết hằn trong trái tim nhà thơ, nhưng cũng vì vậy, người đọc như được tham dự vào những khổ đau, hy vọng. Có thể thơ cũng vì thế mà chân thật và có ích hơn chăng?

Thơ trước hết là cuộc đời. Tiếng lòng trong thơ Vũ Đức Thanh là sự đồng cảm, nỗi yêu thương nặng đầy phía cuộc đời: “Mang nỗi ngày xa lắc/ Mà xào xạc trong nhau” (Thời gian như ngựa chạy). Tiếng lòng càng réo rắt, lắng sâu hơn là khi viết về mẹ: “Tre gầy cong dáng mẹ xưa/ Nắng mưa bật khóc nắng mưa đồng làng” (Lục bát ruộng đồng). Biện pháp nghệ thuật hoán dụ ở hai câu thơ trên, khắc họa dáng mẹ lam lũ, nhọc nhằn, đem lại nỗi xúc động rưng rưng nơi người đọc.

Là người yêu thơ, đắm đuối vì thơ, thế nên, ta đọc được trong thơ Vũ Đức Thanh những ước muốn, trăn trở và hy vọng, bởi cái “nghiệp” đã vận vào ông cả đời. Không có những “tuyên ngôn” về thơ, nhưng tiềm ẩn qua từng câu chữ, ta hiểu được người thơ luôn ý thức về trách nhiệm và nỗi nhọc nhằn của người cầm bút: “Người đi tìm chữ/ Chữ ở trong người/ Mà như bắt bóng/ Chữ ơi/ Người ơi” (Viết bên Tháp Bút). 

Thơ với Vũ Đức Thanh trước hết là cái đẹp. Mà cái đẹp có trong sự sống, có ở khắp nơi: “Tháng ngày bần bật/ Sự sống trong lành lặng lẽ dắt thơ đi” (Sự sống trong lành lặng lẽ dắt thơ đi). Chỉ cần có một tấm lòng rộng mở, một cái nhìn bao dung, thân thiện, thì lúc ấy sự sống sẽ hóa thơ: “Giữa muôn ngàn tiếng tơ vương/ Câu thơ sổ gió/ Ngược nguồn/ Tìm hoa” (Người thơ Tết ở chợ hoa). Giữa chợ hoa, với muôn ngàn đào mai khoe sắc, người thơ như nghe được âm thanh rạo rực của đất trời. 

Đó là khi: “Hồn ta say bóng chữ”, vẻ đẹp của thiên nhiên, của đất trời lại phơi phới vào thơ: “…Lặng im/ Đem sợi trăng già ra phơi/ Nghe lòng khẽ gọi- Xuân ơi/ Khói như sương… Chợt bời bời đào, mai”. Tưởng như nghe được tiếng lòng thi nhân cùng tình yêu thi ca, tình yêu cuộc sống và con người nơi đây.

Thơ Vũ Đức Thanh đa dạng về thể loại và hay hơn ở những câu lục bát. Cách dùng từ ngữ, hình ảnh nhiều khi rất điệu và lạ. Tính triết lý trong thơ cũng được nhà thơ ý thức, tuy chưa nhiều. Ở độ tuổi ngoại “Thất thập”, dường như thơ Vũ Đức Thanh ngày càng “chín”. 

Cùng với thời gian, ông vẫn miệt mài “Lặng lẽ dắt thơ đi”. Xin mượn câu thơ trong bài “Thơ tình gió và trăng” làm lời kết cho bài viết này hy vọng hồn thơ của ông ngày càng thăng hoa, đáp ứng lòng mong đợi của độc giả: “Vẫn còn chớp chớp mắt theo/ Tình như cỏ nháy/ Đêm nhiều gió trăng''. 

Nguyễn Thị Bình

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).