Người chiến sĩ trên hai mặt trận

Căn nhà gỗ của TS. Đỗ Văn Dũng nằm trên đường Thống Nhất (Phường 16, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh) chính là địa chỉ đỏ của lực lượng biệt động thành trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Dù đã gần 70 năm, nhưng chủ nhân luôn giữ được sự đơn giản và cổ xưa vốn có. Nơi này, mỗi ngày ông Dũng vẫn sống và lưu giữ ký ức về những năm tháng gia đình ông tham gia biệt động Sài Gòn.

Có một thời biệt động Sài Gòn

Với TS. Đỗ Văn Dũng, hạnh phúc chỉ đơn giản là đồng đội không bao giờ quên nhau, lịch sử chắc chắn cũng sẽ không bao giờ quên, có một thời biệt động thành anh hùng như thế. Lực lượng đặc biệt này là sản phẩm độc đáo từ trí tuệ và tinh thần của cuộc chiến tranh nhân dân vô cùng anh dũng. Sau 50 năm giải phóng miền Nam, những biệt động Sài Gòn lừng lẫy một thời đều đã ở tuổi xưa nay hiếm.

Những người còn lại trong đơn vị K41 (lực lượng vũ trang thuộc Liên Quận ủy 4, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định), vẫn cuối tháng gặp nhau, ghi chép lại những ký ức một thời tranh đấu, cùng nhau ôn lại năm tháng hoạt động kiên cường, mưu trí vô song với những chiến công huyền thoại, nhớ về đồng đội đã ngã xuống, tìm mọi cách an ủi những đồng bào, đồng chí đã bị tù đày, thương tật, tìm cách truyền lại cho thế hệ mai sau...

Người chiến sĩ trên hai mặt trận -0
TS. Đỗ Văn Dũng (thứ hai, từ phải qua) trong lần tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm việc với phái đoàn Nhật Bản, năm 1995.

Mở đầu câu chuyện, TS. Đỗ Văn Dũng dành lời gan ruột kể về những hoạt động của ba má mình, một cặp vợ chồng giàu lòng yêu nước, cam chịu mọi gian khổ, hy sinh cống hiến cả tài sản và xương máu cho cách mạng từ những “9 năm kháng chiến chống Pháp” và những năm đầu tiên của cuộc chiến tranh chống Mỹ. 

“Năm 1940, sau khi học ở Huế về, ba tôi Đỗ Văn Luyến được bổ nhiệm làm Trưởng ga Kỳ Lam (là ga kế tiếp ga Đà Nẵng, thuộc xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Tại đây, ba kết duyên với má tôi là Đỗ Thị Nga, người làng Kỳ Lam. Hai vợ chồng cùng tham gia kháng chiến chống Pháp. Má tôi hoạt động trong Phong trào Phụ nữ Cứu quốc trong một tổ Tam Tam “sống cùng sống, chết cùng chết, không bao giờ rời nhau”; còn ba được cử làm Chủ tịch Việt Minh Tổng Đa Hòa, lãnh đạo quần chúng nhân dân cầm gậy tầm vông, giáo mác đấu tranh với thực dân Pháp và làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở khu vực Điện Bàn. Ông nội tôi, là một trung nông, cùng con trai và con dâu đã cống hiến tất cả tài sản cho cách mạng”, TS. Đỗ Văn Dũng kể về gia đình mình. 

Năm 1954, sau Hiệp định Geneve, được giao nhiệm vụ tổ chức đi tập kết từ cảng Quy Nhơn, ông Luyến đã chờ đi chuyến cuối, nhưng chuyến tàu Ba Lan đó đã không đến. Ông trở về quê thì bị địch bắt và giam ở nhà lao Vĩnh Điện (Quảng Nam). Vợ ông ở ngoài một nách ôm hai người con còn nhỏ: “Khi ấy, căn nhà của ba má còn 4 cái vách rách nát, tài sản không có gì cả, nghèo đến tận cùng, phải nhờ bà con, hàng xóm giúp má dựng một cái chòi nhỏ, má mượn một ít tiền làm vốn, mở quán bán hàng xén trước chợ Bất Nhị, tích cóp từng đồng nuôi con và thăm chồng đang ở trong nhà lao”, ông Dũng kể, đôi mắt ngấn lệ khi nhớ về người mẹ tảo tần, yêu chồng, thương con hết mực.

Người chiến sĩ trên hai mặt trận -0
Ở tuổi 73, TS. Đỗ Văn Dũng vẫn tích cực tham gia các hoạt động về nguồn, hỗ trợ, giúp đỡ đồng đội gặp khó khăn trong mạng lưới biệt động Sài Gòn năm xưa.

Năm 1956, ông Đỗ Văn Luyến vượt ngục thành công, vào Bình Dương tiếp tục hoạt động cách mạng. Đến năm 1958, khi đã ổn định cuộc sống, ông gọi vợ dẫn 2 người con vào theo. Một năm sau, ông Luyến mua được căn nhà ở ngã năm Chuồng Chó (quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh ngày nay), gần hàng rào sân bay Tân Sơn Nhất, ông đã thực hiện nhiệm vụ bí mật nào đó trong vai thầy giáo, rồi thợ dệt. Khi sân bay Tân Sơn Nhất mở rộng, gia đình ông Luyến phải dọn nhà lên xã Thông Tây Hội (nay là phường 16, quận Gò Vấp) mở xưởng dệt lấy tên Nam Thành. Ông một mình ôm 2 máy dệt và 2 máy suốt cung cấp ống chỉ cho các xưởng dệt gần nhà rồi trở thành ông chủ xưởng dệt, trở thành đại diện cho giới tiểu thương trong Phòng Thương mại và Công nghiệp miền Nam. Quan hệ với giới tư bản, ông thành công trong việc tạo cơ hội để giới tư bản đóng góp cho cách mạng, vợ ông nuôi cán bộ và cung cấp vật tư, thuốc men vào chiến khu, các con ông làm giao liên cho lực lượng biệt động thành. Từ đây, ông đưa cả gia đình vào con đường hoạt động cách mạng. 

Đỗ Văn Dũng lúc này là chàng trai tuổi thiếu niên, ít nhiều hiểu được việc làm của ba má và các công nhân thợ dệt và ông hiểu được rằng, đây là việc hệ trọng, liên quan đến vận mệnh của một tổ chức và tính mạng con người. Ông Dũng được các cô chú giao nhiệm vụ mang tài liệu, vật tư hoặc đưa các cô, chú đến các địa điểm trong thành phố. Thấy cậu bé nhỏ tuổi mà nhanh nhẹn, tháo vát, lại hiểu được thời thế, tổ chức biệt động Sài Gòn đã giao Đỗ Văn Dũng làm giao liên cho đồng chí Năm Minh (Trần Đức Phú, Đội trưởng Biệt động Thanh niên - Sinh viên - Học sinh thuộc Lực lượng vũ trang Khu Đoàn Sài Gòn - Gia Định). Từ đây, biệt động nhí Đỗ Văn Dũng là kênh kết nối giữa đồng chí Năm Minh với đầu mối của các đơn vị biệt động thành khác.

Năm 1965, khi mới 13 tuổi, Đỗ Văn Dũng trở thành “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới biệt động Sài Gòn hoạt động bí mật của đồng chí Tư Thệ (Võ Đình Chung, Trưởng Ban Quân sự quận 3, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định giai đoạn 1967-1971). “Vì còn nhỏ tuổi, lại đang là học sinh nên khi đi làm nhiệm vụ tôi không hề bị địch phát hiện. Cứ thế, những năm tháng tuổi trẻ của tôi sống trong nội thành Sài Gòn, làm giao liên, vận chuyển tài liệu rồi trở thành biệt động Sài Gòn lúc nào không hay”, ông Đỗ Văn Dũng tự hào kể. 

Người chiến sĩ trên hai mặt trận -0
TS. Đỗ Văn Dũng và cựu chiến binh Nguyễn Công Trung, Chủ tịch Câu lạc bộ trái tim người lính miền Tây tại khu vườn từng có căn hầm bí mật của lực lượng biệt động Sài Gòn

Cả nhà làm biệt động thành nhưng vì sự bí mật và đặc thù của nhiệm vụ, ông Dũng chỉ biết ba của mình dùng xưởng dệt che giấu, bao bọc những chiến sĩ cách mạng, má dùng tiền kinh doanh từ xưởng dệt nuôi biệt động thành, giúp đỡ bà con làng xóm, tạo thiện cảm để bảo vệ các chiến sĩ.
Ông Dũng có rất nhiều kỷ niệm trong ngôi nhà, cũng là xưởng dệt của gia đình.

“Cứ đến bữa ăn, tôi thấy má luôn để riêng 3 mâm cơm thật to. Một buổi sáng Tết Mậu Thân 1968, khi đang ở trong xưởng dệt thì tôi nghe tiếng súng nổ ở gần nhà. Tôi đi ra ngõ xem việc gì xảy ra thì thấy một chiến sĩ giải phóng quân chạy vào ngõ nhà tôi, rồi biến mất giữa các rặng tre già. Sau này tôi mới hiểu, mâm cơm của má là dành cho những người lính biệt động Sài Gòn hoạt động bí mật trong căn hầm dưới khóm tre già. Khóm tre ấy cho đến bây giờ tôi vẫn giữ lại, như một phần của ký ức chiến tranh”. 

Trên mặt trận giao thương 

Năm 1970, khi học xong lớp Đệ Nhất (lớp 12 bây giờ), Đỗ Văn Dũng được đồng chí Năm Xuân (Mai Chí Thọ, Chính ủy Quân khu Sài Gòn - Gia Định, sau này là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an) giao nhiệm vụ sang Nhật Bản học ngành kinh tế để trở về xây dựng và phát triển kinh tế sau chiến tranh. Ông Dũng đã tự làm việc để đi học, không những học tập ở trường mà vì mưu sinh nên đã tích cực học trong lao động thực tế. Ông chia sẻ: “Tôi đã học được tinh thần hy sinh của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, rồi sau đó học tập được người Nhật Bản tinh thần hy sinh để phát triển kinh tế”.

Ở xứ người, việc gì ông Dũng cũng xông xáo, làm đến cùng, không kể thức đêm hay thù lao như thế nào. Ông lao vào học tập, nghiên cứu, trở thành nghiên cứu sinh xuất sắc để được nhận học bổng cao nhất của Bộ Giáo dục Nhật Bản. Những nỗ lực phi thường này đã tạo ra bản lĩnh để TS. Đỗ Văn Dũng đạt đến những thành công, đem về lợi ích cho đất nước. 

Năm 1981, ông trở về nước với tấm bằng tiến sĩ kinh tế, được bố trí làm chuyên viên Sở Ngoại thương TP Hồ Chí Minh, chuyên viên trong Tổ tư vấn kinh tế cho Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt, Trợ lý cho GS. Đinh Xáng (Đại biểu Quốc Hội), Giám đốc Công ty Ficonimex, là công ty xuất nhập khẩu ngoài quốc doanh đầu tiên của Việt Nam thời bấy giờ. 

TP Hồ Chí Minh sau giải phóng cho đến những năm đầu thập niên 80 còn khó khăn nhiều bề. “Lúc này, đồng chí Mai Chí Thọ làm Chủ tịch UBND thành phố, trong lần tham dự triển lãm của thành phố, ông gặp tôi là trưởng gian hàng của Ficonimex và hỏi: “Cháu về nước đã làm được gì chưa?”. Tôi trả lời thật lòng là chưa làm được gì. Ông nói: “Cháu hãy trở lại Nhật Bản lập công ty, trong nước có gì xuất khẩu được thì cháu đem đi xuất khẩu. Trong nước cần mua gì thì cháu mua về”.

Người chiến sĩ trên hai mặt trận -0
Ông Đỗ Văn Dũng đưa vợ con đến chào đồng chí Mai Chí Thọ trước khi gia đình ông sang Nhật Bản làm việc (ảnh chụp năm 1986).

Từ năm 1983-1991 TS. Đỗ Văn Dũng quay trở lại Nhật Bản với nhiệm vụ lập công ty, tìm kiếm đối tác để xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ra thế giới. Một mình lăn lộn ở xứ người, vai mang trách nhiệm lớn được giao phó nhưng lại chẳng có một đồng xu cắc bạc nào trong túi, TS. Đỗ Văn Dũng đã phải chật vật, lần mò, vận dụng hết khả năng, mối quan hệ và danh dự của mình để làm việc với đối tác Nhật Bản.

“Tôi đi chào mời các mặt hàng của Việt Nam như, mây tre đan, quế, hồi, trầm hương, gạo, ngũ cốc... nhưng vô cùng khó khăn. Rất may là hầu hết những người tôi tiếp xúc, từ cộng sản đến đại tư bản Nhật Bản đều rất ủng hộ Việt Nam. Người Nhật hầu hết đã giúp đỡ tôi, họ hướng dẫn những quy cách của các mặt hàng để Việt Nam có thể xuất khẩu qua Nhật Bản. Ban đầu là than “không khói” của Quảng Ninh, sau đó đến hàng tôm đông lạnh thì tương đối ổn định, rồi đến bán được dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu trở nên to lớn. Dầu thô của Việt Nam có thể dùng phương pháp đốt trực tiếp (direct burning) tiết kiệm được chi phí lọc dầu. Chúng tôi bán dầu thô sang Nhật Bản sản lượng lớn, hợp đồng ổn định, tạo được niềm tin, người Nhật Bản đã chọn Việt Nam để đầu tư. Đó thật sự như một giấc mơ”, TS. Đỗ Văn Dũng kể lại quá trình đi khơi nguồn giao thương cho TP Hồ Chí Minh sau giải phóng.

Cho đến bây giờ, khi nhắc lại kỷ niệm trên đất Nhật, TS. Dũng vẫn rất đỗi tự hào. Ông đưa cho chúng tôi xem bức ảnh chụp với những người bạn Nhật Bản thời vừa đi học, vừa đi làm kiếm ăn, vừa đấu tranh cho hòa bình và thống nhất đất nước. Trong đó, có những người là chuyên gia cấp cao về ngành điện, họ cùng ông Dũng cặm cụi hơn 30 năm với ước mơ “Tự động hóa lưới điện Việt Nam”. Dù đã hơn 50 năm nhưng tình cảm của họ vẫn chân thành, nồng hậu không hề thay đổi.

Với TS. Đỗ Văn Dũng, từ ngày làm chiến sĩ biệt động Sài Gòn cho đến những năm làm kinh tế ở Nhật Bản đều là nhiệm vụ thiêng liêng và đều có chung một đích đến. Đó là khát vọng hòa bình và xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. 

Ngọc Hoa  

Các tin khác

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Ngày 22/8/1954, 16 người rời Hải Phòng. Họ xuống tàu ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm 125 của Pháp, nhìn bờ biển Việt Nam nhạt dần phía sau mạn tàu. Một tuần trên biển. Rồi đảo Okinawa, nơi nhân viên tình báo Mỹ chờ sẵn để khám sức khỏe, lấy lý lịch, loại bớt 3 người không đủ tiêu chuẩn. Số còn lại lên máy bay chở thẳng đến đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương.

Những hồ sơ cùng được giải mã

Những hồ sơ cùng được giải mã

Trung tuần tháng 3/2025, Mỹ đã công bố những tài liệu cuối cùng liên quan đến vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy tại Dallas năm 1963. Nhân sự kiện trên, tạp chí Chuyện xứ người (ODC) Mỹ cập nhật nhiều hồ sơ còn “thú vị hơn” cả vụ ám sát JKF đã được CIA giải mã “toàn tập”.

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Vừa tiếp giáp với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước đó là TP Hồ Chí Minh, lại có gần 369km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên Tây Ninh luôn tiềm ẩn phức tạp do các đối tượng tội phạm luôn rình rập tuồn ma túy qua biên giới để tiêu thụ tại chỗ và trung chuyển đến các tỉnh thành lân cận tiêu thụ.

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Mùa xuân năm 1873, một nhóm người dân ở hạt Labette, Kansas, kéo đến khu đất bỏ hoang của gia đình Bender, mang theo cuốc, xẻng và những dự cảm chẳng lành. Họ xới tung mảnh vườn táo phía sau căn nhà gỗ bỏ hoang, nơi gia đình Bender từng mở quán trọ ven đường, đón khách vào ăn uống, nghỉ ngơi rồi biến mất.

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

Cách mạng Tháng Tám thành công, lực lượng an ninh, dù mới thành lập, nhưng đã liên tiếp lập nhiều chiến công. Không chỉ trấn áp, triệt phá, xóa sổ hàng chục ổ nhóm, băng đảng, tổ chức câu kết với thực dân Pháp hoạt động chống phá cách mạng, lực lượng An ninh nói chung và lực lượng phản gián nói riêng đã tương kế tựu kế, sử dụng điệp viên do Pháp huấn luyện để đánh lại chính tổ chức của chúng.

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Như bài trước chúng tôi đã đề cập, lợi dụng tình hình cách mạng mới thành lập còn non trẻ, bọn phản cách mạng trong nước đua nhau ngóc đầu dậy chống phá chính quyền. Hàng chục tổ chức và đảng phái phản động vừa có thực lực, vừa được các đội quân xâm lược nuôi dưỡng, chỉ đạo, âm mưu cướp chính quyền, trong đó phải kể đến các cá nhân, tổ chức làm việc cho địch nhưng đã tìm cách chui vào nội bộ của ta để hoạt động gián điệp.

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Vụ án số 7 phố Ôn Như Hầu ngày 12/7/1946 là chiến công xuất sắc, minh chứng tiêu biểu nhất về những đóng góp của lực lượng An ninh trong những thời khắc lịch sử giành và giữ chính quyền non trẻ của dân tộc, là mốc son chói lọi thể hiện vai trò hết sức to lớn của lực lượng An ninh nhân dân.

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Huyền thoại về các nữ chiến binh Amazon dũng mãnh đã trở thành một phần của văn hóa thế giới từ thời cổ đại. Những câu chuyện này không ngừng kích thích trí tưởng tượng của các nhà nghiên cứu và giới nghệ sĩ, là tâm điểm của các cuộc tranh luận học thuật. Tuy nhiên, ẩn sau các truyền thuyết nổi tiếng là một trang sử hoàn toàn có thật. Đó là đội nữ cận vệ đã hàng thế kỷ bảo vệ các vị vua Xiêm La - tiền thân của Thái Lan ngày nay.

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Trong số những sự cố tên lửa tai hại vì sơ suất của con người trong lịch sử khí tài của nhân loại, có sự cố vũ khí hạt nhân ở Damascus năm 1980. Rất may, chưa gây nổ đầu đạn, nếu không sẽ là “thảm họa Chernobyl nước Mỹ”.

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.