Ngọn gió Nguyễn Ngọc Tư

Ngày học đại học, tôi có một người bạn 4 năm chung phòng, quê cậu ấy ở tít chót Cà Mau. Trong rất nhiều điều chúng tôi chia sẻ về quê hương, có một nhân vật mà tôi hay nhắc khi trò chuyện cùng bạn, đó là Nguyễn Ngọc Tư.

Nhưng, với nữ nhà văn đặc biệt này, trước đó vài năm, tôi đã được nghe những tác phẩm của chị. Cái đài cassette 2 loa, 2 cửa băng bố tôi mua lại của người em trong thị trấn Xuân Mai đã cho tôi những cung bậc cảm xúc khác nhau, sống những cuộc đời khác nhau từ chương trình đọc truyện đêm khuya.

Dạo ấy, nhà đài phát khá nhiều truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Trước khi truyện được phát, biên tập viên thường có đôi lời về tác giả, tác phẩm. Bản “lý lịch” của Nguyễn Ngọc Tư tôi ghim được như thế này: Tư tuổi Bính Thìn - 1976 (một lần trò chuyện với tôi, nhà văn “bật mí” tuổi thực của chị là Đinh Tỵ - 1977); sinh ở Bạc Liêu nhưng sớm về Cà Mau ở với ông ngoại. Chị phải nghỉ học giữa chừng vì điều kiện gia đình khó khăn. Sau này, khi đã tập tành viết lách, chị vào làm việc cho một tạp chí văn nghệ của tỉnh. Vừa làm, vừa sáng tác và học hết chương trình phổ thông...

img_20250117_075824.jpg -1
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Bản “lý lịch” trên sở dĩ găm luôn vào tôi vì tôi có một chị gái duy nhất sinh năm 1976 và chị cũng phải nghỉ học khi vào bậc trung học phổ thông do gia đình không lo nổi cho chị. Khi tôi trượt đại học, từng trải qua một số việc vất vả mưu sinh, đã có lúc tôi nghĩ đến cuộc “vượt thoát” lên hoàn cảnh của Nguyễn Ngọc Tư. Và, nghĩ đến chị tôi, nhất định tôi sẽ phải học lên cao nữa, học cho tôi và cả cho chị. Tôi nung nấu ý nghĩ ấy, dù lúc đó tôi loay hoay, tự ti, chán chường, khi lại hừng hực, tràn trề hy vọng...

Trở lại những truyện ngắn thuở ban đầu của Tư mà tôi nghe được. Miền sông nước chằng chịt với những “cánh đồng bất tận” ấy, những con người thuần hậu ấy và cả những lục bình, đước, bần,... đã cho tôi một cuộc viễn du, vừa hết sức gần gụi, thân quen, vừa xa xôi, thăm thẳm. Cho đến tận bây giờ, chưa một lần đặt chân đến miền đất của Tư nhưng mỗi khi nhớ về nó, hoặc gặp xứ sở đó trong tác phẩm của chị, lại cho tôi dạt dào cảm xúc.

Y như một cơn gió từ ngoài sông thổi vào khu vườn tĩnh lặng, làm những chồi non đang thiếp ngủ chợt bừng thức. Những cơn gió xứ đồng bưng ấy hẳn là đã luôn tràn tới, đằm thấm vào tâm hồn thanh nữ của Tư, từ đó miên mải trên những trang văn của chị thời điểm khởi nguyên cho đến khi chín đằm, rực rỡ với thật nhiều trạng huống khác nhau. Gió rong ruổi, gió thổi, gió tràn, gió nổi bão... dày đặc trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư.

Gió là “đặc sản”, là “chỉ dấu” địa lý, văn hóa của vùng đất tận cùng đất nước. Gió góp nên cái “phông nền” để con người, những nhân vật của Tư hay là chính Tư được biểu tỏ sự hiện sinh của mình trong không gian sinh tồn, không gian văn hóa,... Gió không chỉ đan cài trong cảm xúc, diễn tiến câu chuyện, mà ở nhiều truyện ngắn/tản văn/tùy bút, gió đứng ngay tên tác phẩm, hoặc là được gọi tên đúng nó - một thực thể tự nhiên (“Trở gió”, “Của nước và gió”), hoặc là gắn với nó một không gian, thời gian (“Gió bụi lưng đèo”, “Gió thổi suốt đêm”), hoặc là chất chứa tâm trạng (“Gió lẻ”, “Hiu hiu gió bấc”, “Gió mùa thao thức”), hoặc là nó liên gợi đến một thế giới khác đang hiện tồn (“Mộ gió”, “Gió qua cõi tạm”).

Trong tùy bút “Trở gió”, nhà văn đặc sắc của vùng đất Nam bộ viết như thế này: “Tôi thường hình dung, một mai mình đi xa, xa lắm, xa cả những mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gỏn lọn hai từ “gió chướng”, ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ quê nhà”. Chỉ vậy thôi cũng đủ thấy nhà văn yêu những ngọn gió, yêu xứ sở biết nhường nào.

capture.jpg -0
Bìa cuốn “Ngày mai của những ngày mai” của Nguyễn Ngọc Tư.

Có thể nói, gió thực sự đã là một phần không thể thiếu trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, nó là ánh xạ của tự nhiên vào tâm hồn chị, làm nên hồn vía văn chương chị. Và, chính Tư và văn chương của Tư đã trở thành một ngọn gió mới, khác lạ, bền bỉ thổi trên cánh đồng văn chương Việt.

Một dạo, tôi nghe ý kiến của một nhà văn đàn anh cho rằng: Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư chỉ xoay quanh nỗi khổ thứ năm trong 8 nỗi khổ của con người theo quan niệm Phật giáo, đó là “ái biệt ly khổ”. Ý kiến này không hẳn là không có lý, bởi theo dõi giai đoạn đầu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dễ nhận thấy câu chuyện trong tác phẩm của chị chủ yếu là những mối tình ngang trái, yêu nhau mà phải chia lìa; gia đình ly tán, cha mất con, vợ mất chồng, anh em thất lạc,...

Các truyện ngắn trong hai tập “Ngọn đèn không tắt”, “Cánh đồng bất tận”,... tái hiện khá rõ những trái ngang, những nỗi khổ ly biệt, như: “Chuyện của Điệp”, “Ngổn ngang”, “Duyên phận so le”, “Cải ơi”, “Nhớ sông”, “Cuối mùa nhan sắc”,... Cốt truyện, tình tiết của những câu chuyện này độc giả có thể từng gặp trong một số tác phẩm của các nhà văn Nam bộ trước Nguyễn Ngọc Tư hay trong những vở cải lương cho đến giữa thập niên 90 của thế kỷ trước vẫn rất thịnh hành.

“Cánh đồng bất tận” là truyện ngắn “ngoại hạng” so với các tác phẩm trước đó của Tư, cả về dung lượng câu chữ lẫn những vấn đề mà nó chuyển tải. Dường như, Tư đã hiện thực, “đời” hơn, róng riết hơn khi viết về phận người, phản ánh chân thực, trần trụi về cái khắc nghiệt của tự nhiên, nghiệt ngã của xã hội phủ trùm lên một gia đình nghèo với 4 thành viên (khi đủ, khi thiếu). Những vết thương sâu, lòng thù hận,... đã làm cho bức tranh hiện thực ở một vùng đất phơi lên màu xám bạc, tăm tối và có phần man rợ.

Đời có u ám, đau đớn đến vậy không? Sẽ nhiều người đặt ra câu hỏi và nghi ngờ người viết. Nhưng, tôi tin với người từng có nhiều trải nghiệm ở vùng sâu, vùng xa, biên giới - những nơi văn minh luôn chậm đến... thì còn nhiều những mảnh đời ngang trái mà báo chí, văn học chưa nói hết được. Vụ “án văn” mang tên “Cánh đồng bất tận” có thể nhiều người còn chưa quên, tôi tin là Tư cũng chưa quên, nhưng tôi đồ rằng, mỗi khi nhớ đến, hoặc nghe ai đó nhắc, Tư chỉ buông một câu đại loại: “Ủa, sao kì zdậy ta!” và nở một nụ cười (hẳn là nhiều ẩn ý) rồi tỉnh queo nét mặt.

Gần đây tôi ít đọc Tư mà chuyển qua “nghe” Tư, tức là theo dõi một số kênh đọc tác phẩm của chị. Ngoài truyện ngắn, tôi rất thích những tùy bút, tản/tạp văn thể hiện sự quan sát cuộc sống rất tinh, sắc, vừa sâu vừa rộng của Tư. Những điều ấy được chị kể với giọng văn thật gần gũi, mộc mạc và hẳn nhiên rồi, rất duyên, quyến dụ.

Có những bài nghe, tôi lại phải lần mò trên các trang mạng để đọc cho... thấm hơn. Khi đọc, tôi thấy như đang ở bên một người chị, người bạn để nghe chị/bạn ấy tâm tình về sông nước, ruộng đồng, cây trái, xóm làng, những người quê,... Cái giọng thì thủ thỉ, chậm rãi với những phương ngữ ngọt mềm nhưng đôi lúc bất thình lình chêm vào mấy câu bông lơn sắc hơn... dao rồi lại cười hiền “tui vô tội”.

Tôi thích tạp văn “Người đi chợ” của chị. Vỏn vẹn hơn tám trăm chữ nhưng đã phơi hết những bán mua trong cuộc đời mà thời kim tiền lên ngôi, mọi thứ đều có thể đổi trao bằng tiền hoặc rất nhiều tiền: “Sống trong tâm thế của một kẻ đi chợ, và cả nước là một cái chợ khổng lồ, hàng họ đa dạng đến mức mua gì cũng có, kể cả mua thần bán thánh, chức tước, trinh tiết, thận người... chúng ta bớt bỡ ngỡ đi. Giống như câu mà trẻ con hay đùa, “trước còn mắc cỡ, giờ đỡ nhiều rồi”. Người ta có thể mua dặm dài bờ biển để làm khu nghỉ dưỡng, mua một vùng đất để khai khoáng, mua cả dòng sông làm thủy điện, thậm chí, biết đâu còn mua lại được mạng sống từ cái án tử hình...”.

Với tạp văn “Biết sống”, sau khi đọc/nghe tác phẩm, nhiều độc giả và chính tôi đã/sẽ phải hỏi lại mình: Vậy, thực sự ta đã biết sống chưa? Những ngày tháng qua ta đã sống như thế nào, sống vì điều gì, ta đã sống vì ta - chủ nhân của một cuộc đời, một lần duy nhất được sống hay vì những viển vông, phù phiếm? Trả lời những câu hỏi ấy, ta sẽ biết lựa chọn một cách sống và dần tiến tới sự tỉnh thức.

Cách đây đã lâu, tôi thấy Nguyễn Ngọc Tư trong một đám đông. Nhưng, tôi không đến gần chị, vì lúc đó chị được nhiều người vây quanh, chị lại đang có vẻ vội vàng. Một dạo, có hai người bạn nhờ tôi liên hệ với chị và tôi bắt máy, gọi cho nữ văn sĩ. Thật bất ngờ, trong một tin nhắn sau đó, chị gọi đúng “biệt danh” mà nhà văn Tống Phước Bảo vui đùa gắn cho tôi trong một bài viết. Mọi người bảo Tư là một trong số ít nhà văn Việt Nam không chịu dùng mạng xã hội. Nhưng, tôi đồ rằng, bằng cách nào đó, Tư vẫn biết trên mạng xã hội, anh chị em bạn viết đang khóc cười, nhảy múa, đu đưa ra sao... Và, thi thoảng chị lại nở một nụ cười kiểu “tui hỏng biết đâu”.

Nguyễn Phú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).