Ngày xuân nói chuyện "Chín bỏ làm mười"

Xuân đã về. Hương xuân dâng tràn. Dường như mọi phiền muộn tan biến. Dường như mọi khúc mắc dịu vơi. Chỉ còn ta với nụ cười. Chỉ còn ta với tình đời, với tình người chan chứa. Ở đó ta thấy có lòng vị tha, có sự sẻ chia và mối tương giao.

Tôi còn nhớ thuở tôi lên chín lên mười, một chiều cuối năm tôi được theo mẹ về quê. Nhà bác dâu tôi ngày ấy vắng vẻ lắm, bác trai công tác trên Hà Nội và ở luôn trên đó dăm bảy tháng mới về thăm bác dâu tôi. Thành thử nhà bác dâu chỉ có bác và người con trai bằng tuổi tôi.

Tối hai tám Tết, tôi và anh họ ngồi trong ổ rơm cùng với rổ khoai lang mới luộc, hai anh em tôi đợi bác dâu bắc bếp nấu nồi bánh chưng ở ngoài ngõ. Bác dâu tôi bảo: “Đêm nay hai đứa trông nồi bánh chưng cho u nhé”. Anh họ tôi lựa những củ khoai to nhất để riêng ra một góc, rồi mới ăn. Anh ăn chậm, ăn kiểu như vừa ăn vừa nhẩm tính bao lâu nữa mới tới nửa đêm để được ra ngoài sân trông nồi bánh chưng.

Sốt ruột với cung cách ăn của anh họ, cộng với cơn thèm ăn chưa dứt nên đợi lúc người anh họ chạy ra sân giúp bác dâu tôi khuân củi, tôi thò tay “ăn trộm” một củ trong số khoai anh cất để dành. Người anh họ xong việc thì quay vào, nhanh chóng phát hiện ra một củ khoai không cánh mà bay. Anh hỏi tôi thì tôi lắc đầu. Hỏi nữa thì tôi cáu quát lại.

Bực vì mất khoai, lại cộng thêm bị tôi “bắt nạt”, người anh họ kêu toáng lên đòi tôi phải trả lại. Bác dâu tôi bước vào và hiểu ra câu chuyện, bác dâu tôi nói với anh họ tôi: “Để u đền củ khác là đủ mười củ”. Anh họ tôi nghe thế thì thôi không cự nự với tôi nữa.

Mâm quả trầu cau là thủ tục không thể thiếu trong lễ cưới của người Việt.
Mâm quả trầu cau là thủ tục không thể thiếu trong lễ cưới của người Việt.

Đêm ấy tôi ân hận lắm, nhất là khi anh họ tôi lấy củ khoai được bác dâu tôi “đền”, vì đó là củ khoai to nhất. Anh bẻ làm đôi, chia cho tôi nửa củ. Tôi ngồi lại bên bác dâu sát bên anh họ, lí nhí nói câu xin lỗi và hỏi thật thà: “Sao bác chỉ đền cho anh ấy một củ khoai thôi?”. Thì ra anh họ tôi cất đi đúng mười củ khoai, tính là đợi đêm sẽ đem ra ăn chung. Anh không khó khăn gì khi quay vào nhà và cẩn thận đếm lại thấy chỉ còn có chín củ.

Bác dâu cười vui, bác xoa đầu tôi rồi kể: Ngày xưa, lâu lắm rồi có hai nhà hàng xóm cạnh nhau. Một sáng nọ, người đàn bà bên kia bờ  rào, sau hồi lục xục bên chuồng gà nhà mình thì đỏ mặt nói giận dữ: “Rõ ràng hôm qua có chín quả trứng, sáng nay phải là mười quả chứ sao lại vẫn còn có chín quả?”. Giọng nói đanh chua và cặp mắt cứ hướng sang nhà bên mà réo rắt, chừng như bà ta tỏ ý nghi ngờ hàng xóm ăn trộm trứng gà nhà mình. Bà hàng xóm nghe vậy biết nhà bên đang cạnh khóe nên nín thinh.

Mới nghe tới đó, tôi vội cắt ngang lời bác dâu: “Bà ấy không lấy mà bị đổ điêu, sao không mắng lại?”. Bác dâu lại xoa đầu tôi: “Chẳng lẽ người ta mới nói xa xôi mà mình lại động lòng. Động lòng đối đáp lại khác gì tự nhận chính mình đã lấy trứng”.

Trưa hôm đó, người hàng xóm bị nghi ngờ đã tranh thủ lúc nhà bên kia đi làm đồng đem đặt vào ổ trứng gà bên đó một quả trứng lấy từ chuồng gà nhà mình. Lúc nhà bên đi làm đồng về, bước lại chuồng gà và nhận thấy trong ổ có tròn chục quả trứng thì biết mình ban sáng đã lỡ lời, đã vội nghi oan cho hàng xóm nên bèn nói rất to, ý để hàng xóm nghe được “Thì ra hôm nay gà nhà mình đẻ muộn”. 

Tôi thắc mắc: “Cháu chẳng hiểu thế là sao cả? Bà bên nhà này có lấy trứng của bà nhà kia đâu mà lại đem trứng nhà mình đặt vào ổ nhà ấy?”. Bác dâu nói: “Hàng xóm ở với nhau, sơ sẩy có chuyện gì không hiểu nhau không khéo mất cả tình nghĩa láng giềng. Mình có thiệt chút ít nhưng tình cảm hai nhà không sứt mẻ mới quý. Ở đời thương quý nhau mới khó. Đã thương quý nhau rồi thì hề gì một chút thiệt hơn cháu ạ. Biết bỏ qua những chuyện vụn vặt hay chưa đúng mới là thân tình”.

Cách đây mấy năm, tôi được cô em họ “phân công” làm đại diện cho họ nhà trai lên Bắc Kạn để trao đổi với họ nhà gái chuẩn bị cho thằng cháu trai tôi cưới vợ. Bữa trao đổi ấy diễn ra thân ái và cầu thị. Nhìn chung cha mẹ họ hàng nào chẳng mong cho con cho cháu mình hôn nhân được thuận lợi và vui vẻ.

Trước lúc chào ra về, tôi được ông đại diện cho họ nhà gái kéo tay dặn kỹ: “Ông nhớ đấy nhé. Trong cơi trầu cho lễ ăn hỏi và lễ xin dâu bên nhà ta, nhớ chuẩn bị chín miếng trầu têm cánh phượng, chín chiếc phong bao hồng điều đựng chút tiền gọi là”. Tôi ậm ừ tỏ ra đã nghe nhưng thực tình bụng vẫn chưa hiểu sao lại như vậy. Rồi lễ ăn hỏi. Rồi lễ cưới cũng đến ngày như đã hẹn. Khi người nhà trai bưng cơi trầu lúc ăn hỏi, cũng như khi dẫn cưới tới trao cho nhà gái thì ông đại diện nhà gái thong thả mở nắp cơi trầu ra.

Ông với tay lấy trên chiếc đĩa đã để sẵn trên chiếc bàn cạnh đó một miếng trầu cũng têm cánh phượng, cùng một chiếc phong bao hồng điều. Ông bỏ những thứ đó vào cơi trầu bên cạnh chín miếng trầu và chín chiếc phong bao hồng điều mà bên nhà trai đã chuẩn bị trước. Rồi ông lại cẩn thận đậy nắp cơi trầu lại và nhắc mẹ cô dâu bưng cơi trầu lên đặt trên ban thờ kính cáo gia tiên. Chuyện rất nhỏ và diễn ra rất nhanh, có mấy ai trông thấy và biết được.

Bữa cơm rượu thân mật hai nhà được tiến hành sau đó. Nâng chén rượu tới trước mặt ông đại diện nhà gái, tôi nghiêng đầu hỏi đủ nghe: “Ông giải thích cho tôi biết điều ông đã làm có nghĩa là gì?”. Ông đại diện nhà gái bấy giờ mới cười sảng khoái.

Chuyện kể rằng ngày xửa ngày xưa có một đôi trai gái yêu nhau. Người con trai tuy là con nhà nghèo nhưng bù lại anh lại rất chăm chỉ làm ăn, tính tình hiền lành. Người con gái có nhan sắc nhất làng, cô có bản tính nhu mì và là con gái một gia đình khấm khá trong làng. Ngày qua tháng lại. Hoa đến thì hoa nở. Duyên đến thì duyên hẹn ngày gắn bó, nhưng hiềm nỗi dạo đó tục lệ cưới hỏi của làng lại khá chặt chẽ.

Bên nhà gái yêu cầu nhà trai phải có đủ mười quan tiền thì mới cho cưới. Chàng trai làm lụng mấy năm mà chỉ dành dụm được mỗi chín quan tiền. Thiếu một quan tiền nữa mới đủ mà thời hạn do nhà gái đưa ra sắp hết. Chàng trai bấn lên lo lắng. Chẳng lẽ không cưới được người con gái mình yêu thương. Cô gái cũng vậy.

Cô nước mắt vắn dài năn nỉ cha mẹ chiếu cố cho người mình đã nguyện trăm năm nhân ngãi. Nhưng cô không thuyết phục được cha mẹ bởi cha mẹ cô cũng có cái lý của mình, họ nói “Lệ làng đặt ra thế rồi. Làm trái lệ làng làng sẽ phạt”.

Phong tục cưới hỏi của người Việt đậm nét văn hóa dân tộc.
Phong tục cưới hỏi của người Việt đậm nét văn hóa dân tộc.

Rồi ngày cưới cũng đến. Lúc nhà trai cử người bê tráp xin dâu, trong đó khay đặt tiền dẫn cưới chỉ có chín quan tiền, vừa tới đầu ngõ nhà cô dâu thì bà mối kêu dừng lại, bà mối đặt vào khay đựng tiền dẫn cưới thêm một quan tiền. Chàng trai ngỡ ngàng chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra nhưng bụng khấp khởi mừng vui. Tiền và đồ lễ dẫn cưới được đưa tới trước mặt quan viên họ nhà gái. Người chủ hôn trịnh trọng đón khay đựng tiền, ông cẩn thận đếm rồi giơ cao cho mọi người nhìn thấy, rồi ông nói to: “Tiền dẫn cưới đã đủ mười quan. Cho chú rể vào bái lễ”.

Sau này khi đã thành chồng vợ, người con trai mới thật lòng hỏi người con gái. Cô cho biết là cô thương yêu anh thật lòng và không muốn chỉ vì thiếu một quan tiền mà duyên hai người lỡ dở. Cô đã dành dụm được một quan tiền rồi nhờ bà mối bỏ giúp vào khay đặt tiền xin dâu. Chàng trai vô cùng xúc động, anh cảm ơn người vợ trẻ hiền thảo và biết cách ứng xử của mình. Họ thành một đôi ăn ở với nhau vẹn tròn đến đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn.

Nghe chuyện xong tôi mới ớ ra và nghĩ về chuyện ứng xử của người xưa. Đúng là về nghĩa, về tình, đôi khi người ta phải biết bỏ qua những mặc cảm, bỏ qua những bất đồng, gạt đi những khó khăn. Và đôi khi để đạt được điều đó, người ta phải nghĩ ra những cách ứng xử thông minh, tinh tế và thấu tình đạt lý. Vậy nên mới có thơ rằng: “Vợ chồng thương nhau chín bỏ làm mười/ Chị em thương nhau sợi chỉ cắn đôi/ Tắt lửa tối đèn hàng xóm thương nhau bát cơm sẻ nửa”.

Nguyễn Trọng Văn - Xuân 2019

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).