Một vài ý kiến trao đổi về hoàn cảnh ra đời bài thơ “Nguyên tiêu”

Gần đây, tình cờ tôi đọc trên Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 1 (281) năm 2019 – Xuân Kỷ Hợi có bài viết “Bác Hồ đã viết bài thơ Nguyên tiêu như thế nào” của Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm, hiện công tác tại Trường Đại học Hải Phòng.

Về bối cảnh ra đời bài thơ, tác giả Đỗ Phương Lâm cho biết:

“Đầu xuân năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương mở rộng, nhằm vạch ra phương hướng và nhiệm vụ cho một giai đoạn mới của Cách mạng Việt Nam, chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới 1950. Thời gian này, những cuộc họp “quân cơ quốc kế” thường được tổ chức ở những nơi kín đáo, nhằm đảm bảo bí mật. Sau một cuộc họp, từ “yên ba thâm xứ”, Bác cùng đoàn cán bộ đi thuyền trở ra chiến khu Việt Bắc. Lúc ấy đã nửa đêm, trăng rằm sáng vằng vặc trên sông, vào lúc thi hứng Bác đã ngâm bài thơ Nguyên tiêu.

Có lẽ Nguyên tiêu là bài thơ đạt kỉ lục về thời gian hoàn thành nguyên tác chữ Hán và bản dịch Nôm nhanh nhất: chỉ sau vài phút. Chính nhà thơ Xuân Thủy, người ngồi bên Bác ngay trên thuyền kể lại rằng, nhân trăng sáng cảnh đẹp, Bác đọc hai câu thơ:

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên/ Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên” (Đêm nay, đêm rằm tháng Giêng. Trăng đúng độ tròn, Sông xuân, nước xuân nối tiếp trời xuân).

Rồi thêm hai câu nữa thành bài thơ Nguyên tiêu. Các đồng chí cùng đi trầm trồ tán thưởng và đề nghị Bác cho dịch ra tiếng Việt. Bác bảo: “Có Xuân Thủy đây, Xuân Thủy dịch đi”. Sau một hồi suy nghĩ, Xuân Thủy đọc bản dịch: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi/ Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.

Bài viết “Bác Hồ đã viết bài thơ Nguyên tiêu như thế nào” của Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm.
Bài viết “Bác Hồ đã viết bài thơ Nguyên tiêu như thế nào” của Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm.

Bác khen: “Dịch lưu loát, giữ được chất thơ, nhưng dòng thứ hai có ba chữ xuân hòa với nhau mà bản dịch chỉ có hai chữ xuân, thế thì ý thì đủ mà chữ còn thiếu”. Như vậy đủ thấy Bác đã có dụng ý khi đặt ba chữ xuân trong câu thơ thứ hai”.

Tác giả Đỗ Phương Lâm còn cho biết thêm:

“Bác đã chơi chữ bằng cách lấy tên đồng chí Xuân Thủy làm trung tâm cho câu thơ. Chính các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc đã từng phát hiện ra điều này: “Hồ Chí Minh thật khéo léo lấy tên người bạn chiến đấu bên cạnh là Xuân Thủy để gợi hứng miêu tả cảnh vật” (Hồ Chí Minh xảo diện địa bả thân biên đích chiến hữu Xuân Thủy đích danh tự tức hứng dụng tiến miêu tả cảnh vật đích thi cú trung).

Đọc xong bài viết, tôi thấy có vài điều muốn trao đổi lại cùng Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm.

Thứ nhất, về hoàn cảnh ra đời bài thơ, viết Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương mở rộng nhằm “vạch ra phương hướng và nhiệm vụ cho một giai đoạn mới của Cách mạng Việt Nam” thì khả dĩ có thể chấp nhận được. Còn “chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới 1950” thì e rằng đó là người thế hệ sau níu các sự kiện lịch sử theo suy nghĩ của mình. Vào thời điểm đó, không ai có thể tiên tri mà bàn tới việc “chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới 1950” cách xa hơn 2 năm sau với nhiều sự kiện, diễn biến không đoán biết được.

“Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử” cho thấy các sự kiện đầu năm 1948 cụ thể: Ngày 15 và 16/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng. Ngày 18/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ xem xét tình hình thế giới. Như vậy, cũng khó để mà khẳng định chắc nịch hoàn cảnh ra đời bài thơ “Nguyên tiêu” ra đời sau khi Hồ Chủ tịch dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng như Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm đã viết.

Thứ hai, viết “Chính nhà thơ Xuân Thủy, người ngồi bên Bác ngay trên thuyền” có lẽ chưa chính xác. Tác giả Đỗ Phương Lâm lại viết rằng: Bác bảo: “Có Xuân Thủy đây, Xuân Thủy dịch đi”, không rõ tiến sĩ lấy tư liệu ở đâu? Còn tôi, căn cứ theo lời kể của ông Vũ Kỳ, thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cho biết: “Hôm ấy, Bác ngồi ở đầu mảng, thư thái ngắm trăng, ngắm cảnh. Ánh trăng vàng sóng sánh dưới mặt sông. Bỗng nghe Bác ngâm: “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên/ Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên/ Yên ba thâm xứ đàm quân sự/ Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”.

Về sau, đồng chí Xuân Thủy được phép dịch bài thơ này ra tiếng Việt.

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi/ Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. (Vũ Châu Quán – Nguyễn Huy Quát: Thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Như vậy, chỉ hai chữ “về sau” đã cho ta biết không có chuyện nhà thơ Xuân Thủy ngồi ngay bên cạnh Bác để dịch bài thơ này. Tôi đã tìm đọc hồi ký của nhà thơ Xuân Thủy thì cũng không thấy có đoạn nào ông nhắc đến hoàn cảnh dịch bài thơ Nguyên tiêu.

Dù bản dịch của Xuân Thủy được đánh giá là “tài hoa, trôi chảy, dễ làm cho nhiều người thuộc”, “cứ nghĩ như một bài nguyên tác” qua đánh giá của Vũ Châu Quán - Nguyễn Huy Quát, nhưng bản thân người dịch lại muốn tìm những cách dịch khác nhau cho bài thơ này. Trong “Tuyển tập Xuân Thủy” (Nhà xuất bản Văn học), do Hoàng Phong và Nguyễn Trọng Uyên sưu tầm, biên soạn, có thêm 2 bản dịch khác của nhà thơ Xuân Thủy như sau:

Bản dịch thư nhất: “Rằm xuân vằng vặc trăng soi/ Xuân sông, xuân nước, xuân trời đẹp thay/ Việc quân bàn giữa sương dầy/ Khuya về bát ngát thuyền đầy ánh trăng”.

Bản dịch thứ hai: “Rằm tháng giêng trăng tròn vành vạnh/ Liền sông xuân, nước xuân, trời xuân/ Nơi khói sóng luận bàn quân sự/ Khuya, thuyền về ăm ắp trăng ngân”.

Qua lời kể của ông Vũ Kỳ với hai tác giả Vũ Châu Quán – Nguyễn Huy Quát (Hà Nội, tháng 3/1988) cũng cho ta biết hoàn cảnh ra đời bài thơ “Nguyên tiêu” vào đầu năm 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới. Mùa thi đua luyện quân lập công bắt đầu. “Một hôm, Bác trên đường đi dự Hội nghị Trung ương. Họp xong, trời đã khuya, Bác trở về nơi nghỉ bằng một chiếc mảng dưới đêm trăng sương trắng, giữa trời xuân mênh mông”.

Bằng những tư liệu nêu trên cho thấy, Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm khi viết “Có lẽ Nguyên tiêu là bài thơ đạt kỉ lục về thời gian hoàn thành nguyên tác chữ Hán và bản dịch Nôm nhanh nhất: chỉ sau vài phút” cùng với các nội dung liên quan đến nhà thơ Xuân Thủy trong hoàn cảnh ra đời bài thơ Nguyên tiêu là thiếu chính xác, nếu không muốn nói là… võ đoán. Tác giả còn viết rất cụ thể: “Chính nhà thơ Xuân Thủy, người ngồi bên Bác ngay trên thuyền kể lại rằng”. Mong rằng, qua bài trao đổi này, Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm sẽ cho bạn đọc được biết nhà thơ Xuân Thủy kể lại ở tư liệu nào?

Trả lời hai ông Vũ Châu Quán – Nguyễn Huy Quát (Hà Nội, tháng 3/1988), Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc này là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, một học trò gần gũi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyến cáo “đừng nên vẽ rắn thêm chân” khi nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh. Theo đồng chí Phạm Văn Đồng, “Sự thực là sự thực, chính vì thế mà nó thơ! Bác rất ghét bày trò. Người không thích kiểu uống rượu rung đùi, bình thơ. Thơ chúc Tết, Bác nghĩ lâu ngày lắm, vì thế nó còn có tính chiến lược. Văn có tầm cao là loại văn diễn tả cái gì lớn nhất trong tư tưởng cũng như trong tâm hồn con người. Đấy mới là văn chương. Nếu trong con người anh không có cái gì, thì anh cũng chẳng nói lên được điều gì. Văn viết theo kiểu làm văn màu mè, thì chỉ là loại văn sớm chiều mà thôi!” (Vũ Châu Quán – Nguyễn Huy Quát, sđd).

Chúng tôi không dám khẳng định những ý kiến của mình là chắc chắn, song thấy có đôi điều trong bài viết “Bác Hồ đã viết bài thơ Nguyên tiêu như thế nào” của Tiến sĩ Đỗ Phương Lâm chưa thật chính xác. Vì thế chúng tôi mạo muội có vài điều góp ý. Chúng tôi mong nhận được ý kiến phản hồi của tiến sĩ để làm cho rõ hơn những tư liệu tác giả dùng để nghiên cứu cho hoàn cảnh ra đời bài thơ Nguyên tiêu như đã viết.

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).