“Lục Vân Tiên” viên ngọc sáng của văn hóa nhân loại!

Tin chính thức từ kỳ họp lần thứ 41 của Đại hội đồng UNESCO đã thông qua danh sách những Danh nhân văn hóa được vinh danh trong năm 2022. Việt Nam có hai nhà thơ lớn là Hồ Xuân Hương (nhân kỉ niệm 250 năm ngày sinh) và Nguyễn Đình Chiểu (nhân kỉ niệm 200 năm ngày sinh)... Với Nguyễn Đình Chiểu, một căn cứ quan trọng để UNESCO khẳng định là trước tác thơ yêu nước, giàu giá trị nhân đạo, trân trọng, yêu quý con người, mang ý nghĩa văn hóa giáo dục sâu sắc, có tầm ảnh hưởng lớn.

Tựa vào những quan niệm mới về triết học văn hóa, bài viết xin nhìn lại những đóng góp lớn lao của “Lục Vân Tiên” – tác phẩm đã được dịch ra ba thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật, có một đời sống riêng ở các xứ sở mới dù khác biệt về văn hóa nơi sinh ra.

image001.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888).

Bước vào thời toàn cầu hóa, liên văn hóa được mở rộng, khái quát thành trào lưu triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) hướng đến những điểm tương đồng trên nền tảng những khác biệt văn hóa. Đây là một xu hướng tất yếu, không chỉ là nhận thức đời sống từ cái nhìn dân tộc, đa chiều hơn, hướng đến những giá trị phổ quát, nhân loại, hay được gọi là mẫu số chung của văn hóa toàn cầu.

Liên văn hóa rất chú ý tới hiệu quả giao tiếp thể hiện thành các giá trị văn hóa, là những tiêu chuẩn, những điều mong muốn tác động đến sự lựa chọn văn hóa. Liên văn hóa trong một tác phẩm cụ thể biểu hiện ở việc học tập, kế thừa, phát triển và nâng cao văn hóa dân tộc, ở tiếp nhận văn hóa có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới để làm giàu có văn hóa nước nhà. Nó được thể hiện ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật, ở nhiều cấp độ nhưng biểu hiện tập trung ở biểu tượng, nhân vật, ngôn ngữ.

Với “Lục Vân Tiên” thì ngay chính tác giả của nó đã rất ý thức coi đó là một “liên văn hóa”. Đây là mấy câu mở đầu: “Trước đèn xem truyện Tây Minh/ Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le/ Hỡi ai lẳng lặng mà nghe/ Dữ răn việc trước, lành dè thân sau”. Nhưng trên thực tế là không hề có “truyện Tây Minh” nào cả. Điều này đã được cả hai giới học giả Việt - Trung xác nhận. Như vậy Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tạo truyện trên cơ sở một thói quen tiếp biến văn hóa của phương Đông, nhất là giao lưu văn hóa Việt - Trung, mà “Truyện Kiều” là một kết tinh tiêu biểu.

Cơ bản nhất là nội dung truyện với một thế giới nhân vật sống động rất tiêu biểu cho quan niệm phương Đông về nhân nghĩa, chính tà, về tinh thần nghĩa hiệp xả thân cứu người... Trên đường đi ứng thi, Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Nguyệt Nga cảm động vẽ hình chàng và nguyện suốt đời gắn bó với ân nhân. Vân Tiên gặp bao trắc trở, mẹ mất phải bỏ thi về chịu tang, bị mù, bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông. Võ Công (cha Võ Thể Loan) bội hôn đẩy Vân Tiên vào hang. Vân Tiên được người tốt và thần Phật cứu, mắt sáng lại, đi thi đỗ Trạng, vâng lệnh triều đình đi phá giặc Ô Qua.

Nguyệt Nga bị ép đi cống giặc bèn ôm hình Vân Tiên nhảy xuống sông, thoát chết lại bị cha con Bùi Kiệm ép duyên. Nàng bỏ trốn rồi được thần, Phật cứu. Phá xong giặc, Vân Tiên gặp lại và cưới Nguyệt Nga. Những kẻ bất nhân bất nghĩa bị trừng phạt: Võ Công xấu hổ mà chết; mẹ con Võ Thể Loan bị cọp tha, Trịnh Hâm bị cá nuốt. Những người nhân nghĩa được đền bù xứng đáng...

Như vậy, cốt truyện chịu ảnh hưởng rõ rệt của truyện cổ tích, truyện Nôm dân gian với kết cấu bổ đôi phân cực chính tà và kết thúc có hậu theo nguyên tắc “ác giả ác báo”, “ở hiền gặp lành”. Cơ bản hơn là nhân vật được xây dựng trở thành biểu tượng cho khát vọng của dân gian về con người lý tưởng mà Lục vân Tiên là một kết tinh rất đẹp: Quân tử, nghĩa hiệp, dũng khí, võ giỏi văn hay, thương người... Những vấn đề này chính là liên văn hóa theo chiều dọc truyền thống (hay gọi là giao tiếp nội văn hóa- intracultural communication).

image002.jpg -0
Bìa hai tập “Lục Vân Tiên cổ tích truyện” in bằng tiếng Pháp, Anh, Việt/Nôm.

Như một ngọn lửa đặt dưới thấu kính văn hóa hội tụ ba luồng ánh sáng của ba triết học Nho, Phật, Lão, “Lục Vân Tiên” càng bừng cháy những ánh sáng nhân văn cao cả. Trên bầu trời liên văn hóa (intercultural) phương Đông, tác phẩm là tấm gương về đạo lý hiếu nghĩa. Đó là một thuyết minh bằng nghệ thuật sinh động cho các phạm trù “trung”, “hiếu”, “tiết”, “hạnh”. Chính tác giả đã “tuyên ngôn”: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Vân Tiên là đỉnh cao của trung hiếu. Chàng đánh cướp cứu Nguyệt Nga mà không cần đòi ân huệ. “Tiểu đồng” tưởng Vân Tiên chết thật bèn làm chòi ở mả chủ mà thờ. Nguyệt Nga là kết tinh của tiết hạnh...

Ở thời toàn cầu hóa xô bồ hôm nay, đạo đức xuống cấp, đạo lý bị coi thường... nhìn vào “Lục Vân Tiên” mới thấy những tính cách đó đích thực là tấm gương để con người soi vào mà “trau mình”. Một thời bị cái nhìn hẹp hòi chi phối tác phẩm từng bị coi là minh họa cho giáo điều phong kiến, đến nay càng thấy rõ những gì là tinh hoa sẽ không bao giờ bị vùi lấp. Con người đẹp một cách mẫu mực như Lục Vân Tiên luôn được tỏa sáng!

Nàng Nguyệt Nga, như tên gọi, mãi mãi là ánh trăng soi rọi triết lý tình thương, vị tha, chung thủy, ân nghĩa, trách nhiệm cho con người hôm nay. Nàng có một tâm hồn nghệ sĩ. Lòng kính trọng, biết ơn hay sự khâm phục một tài năng, một tấm lòng đã khiến nàng vội lấy bút vẽ mà họa một bóng hình lý tưởng. Chưa trao lời nhưng nàng đã trao tâm hồn mình cho Vân Tiên, tự coi mình là “vợ” của chàng.

Nghe tin Vân Tiên ốm chết, tiếng khóc của nàng không còn tiếng khóc thông thường mà là tiếng đau xót xa của tình thương, tình nghĩa thấu cảm cả trời đất. Chấp nhận lệnh vua phải đi cống giặc, trước khi đi, nàng làm lễ cúng “chồng”, đến thăm cha “chồng” (Lục ông) còn gửi ít tiền để ông “dưỡng già”. Chưa là dâu nhưng nàng gọi “cha”: “Một ngày một bước một xa/ Của này để lại cho cha dưỡng già”. Trong chữ “cha” ấy có biết bao đau xót của một trái tim rất biết bổn phận và trách nhiệm của người con... Ngày hôm nay đang rất cần những Nguyệt Nga như thế!

Nhưng “liên văn hóa” rất chung mà cũng rất riêng. “Truyện Tây Minh” chẳng có bên không gian văn hóa Trung Hoa, nó chính là hiện thân của xã hội phong kiến thối nát triều Nguyễn giữa thế kỷ XIX. Chủ đề chính của tác phẩm là vấn đề nhân nghĩa nhưng là nhân nghĩa gắn liền với nhân dân lao động. Hình tượng người anh hùng dù có bóng dáng của tiểu thuyết Minh Thanh (Trung Quốc) nhưng vẫn khác nhiều về phẩm chất. Như ở nhân vật Hớn Minh. Sau khi “bẻ giò” con quan huyện Đặng Sinh, Hớn Minh không theo con đường “hảo hán” của tiểu thuyết Minh Thanh là lên núi lập hội mà ở lại cùng Vân Tiên đánh giặc cứu dân. Rõ ràng tư tưởng nhân dân rất sâu đậm trong quan niệm Nguyễn Đình Chiểu.

Thước đo giá trị một tác phẩm là tầm ảnh hưởng. Khi mới ra đời, “Lục Vân Tiên” là một “hiện tượng” của tiếp nhận văn học Đàng Trong. Ông Bagiô – một nhà nghiên cứu Pháp, năm 1886 thuật kể: “Những đám người ngồi xổm, xúm xung quanh một người ăn mặc rách rưới, thường là kẻ mù lòa để nghe anh ta gân cổ lên kể chuyện “Lục Vân Tiên”, có khi hàng giờ mà không biết chán”. Tác phẩm được viết ra để “kể” chính là chủ ý của tác giả, thể hiện ở ngay phần mở đầu “Hỡi ai lẳng lặng mà nghe”. Vì sao vậy? Vì hồi đó hầu hết người dân mù chữ nên sáng tác để “kể” là con đường ngắn nhất đi vào công chúng. Điều này lý giải tác phẩm có cấu trúc không liền mạch mà được ngắt ra thuận lợi cho việc kể nhiều quãng, kể ở nhiều thời điểm khác nhau. Có nhà nghiên cứu nước ngoài so sánh thú vị việc này tương tự với việc nhà thơ mù Hôme kể “Ilyát” và “Ôđixê” hàng chục nghìn năm trước.

Theo khảo sát xã hội học ban đầu, ở các nước lưu hành bản dịch tác phẩm đều được giới nghiên cứu và độc giả đón nhận. Họ tìm thấy ở đó một “mẫu số chung” vì con người, ca ngợi vẻ đẹp nhân tính, nhân văn mà chống lại những gì phản nhân văn. Người ta còn tìm thấy ở đó một quan niệm mỹ học về cái đẹp: là sự hài hòa, tương xứng (Vân Tiên/Nguyệt Nga), là khát vọng vươn lên vẻ đẹp tận thiện tận mỹ (Nguyệt Nga, Hớn Minh)...

Có nhà nghiên cứu nước ngoài đặt câu hỏi vì sao nhà thơ mù lại có sáng tác vĩ đại như vậy? Và ông ta tự trả lời: Khi người ta “thiền” thường nhắm mắt để nhìn đời bằng con mắt nội giới bên trong. Theo nhà Phật, nếu nhìn bằng con mắt thường thì chỉ là “thông đạt sự tướng hữu vi” (nắm bắt cái vỏ bên ngoài). Phải nhìn bằng con mắt bên trong mới đạt được “thông đạt không tướng vô vi” (hiểu cái lõi sự vật). Đó là trí huệ. Nguyễn Đình Chiểu đã viết bằng con mắt trí huệ như vậy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).