Phát biểu tại Phiên họp chuyên đề để kiểm điểm tình hình triển khai Nghị quyết số 57 sau Phiên họp lần thứ 3/2026, diễn ra ngày 23/6 dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an nêu rõ các giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo; đề nghị phân vai rõ ràng giữa bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong phát triển công nghệ.
Điểm nghẽn nằm ở phân vai và tổ chức thực hiện
Thời gian vừa qua, Trung ương, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, sửa đổi hệ thống pháp lý, cơ chế, chính sách tạo thông thoáng để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, nếu xét về sản phẩm cụ thể tác động rõ ràng tới phát triển kinh tế - xã hội thì chưa đạt được nhiều kết quả.
Nguyên nhân cốt lõi không nằm ở thiếu quyết tâm chính trị, cũng không hoàn toàn nằm ở nguồn lực, vì Nhà nước đã đầu tư nguồn lực rất lớn, mà điểm nghẽn là chưa phát huy tốt vai trò của ba chủ thể trung tâm của hệ sinh thái khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là bộ, ngành; địa phương và doanh nghiệp.
Nhấn mạnh cụ thể nội dung này, Bộ trưởng Lương Tam Quang nêu rõ:
Cấp bộ
- Chưa xác định đầy đủ các sản phẩm đặc thù gắn với trách nhiệm quản lý nhà nước.
- Chương trình phát triển công nghệ còn thiếu thống nhất, dẫn đến phân tán nguồn lực.
- Chưa thực sự phát huy vai trò “tư lệnh ngành” trong dẫn dắt địa phương.
- Chưa phân vai rõ theo chuỗi giá trị vùng.
- Chưa hình thành được chuỗi sản xuất khép kín từ nguyên liệu đến thị trường.
Địa phương
- Thiếu định hướng cụ thể, còn lúng túng trong tổ chức thực hiện.
- Lựa chọn sản phẩm chưa gắn với thế mạnh và tiềm năng riêng.
- Nghiên cứu còn dàn trải, rập khuôn.
- Chưa tạo ra sản phẩm đột phá, đủ sức cạnh tranh.
Doanh nghiệp
- Chưa được trao vai trò chủ động dẫn dắt phát triển khoa học công nghệ.
- Khó tiếp cận nguồn vốn ngân sách.
- Thiếu cơ chế Nhà nước đặt hàng, đầu tư cho những sản phẩm mới chưa có thị trường.
“Chẳng hạn như Hoa Kỳ, cơ quan hàng không vũ trụ hay Bộ Quốc phòng gắn với nghiên cứu các nhu cầu mua sắm công phục vụ quốc phòng và an ninh năng lượng. Hàn Quốc chuyển danh mục công nghệ chiến lược thành lộ trình nhiệm vụ cụ thể, giao cho các tập đoàn lớn dẫn dắt chuỗi cung ứng, phân vai địa phương rõ ràng theo lợi thế vùng. Israel sử dụng cơ chế góp vốn cho khu vực tư nhân đầu tư và dẫn dắt thị trường. Nhật Bản, Ấn Độ nhấn mạnh vai trò điều phối của Nhà nước, đánh giá độc lập các chương trình và bắt đầu từ những phân khúc phù hợp với lợi thế quốc gia, không dàn trải… Điểm chung của các mô hình này là Nhà nước tạo sân chơi, chia sẻ rủi ro giai đoạn đầu nhưng không làm thay”, Bộ trưởng Lương Tam Quang chia sẻ kinh nghiệm của các nước và cho rằng, việc kết nối công - tư linh hoạt trong phát triển khoa học công nghệ có vai trò rất quan trọng.
Phải phân tầng, phân vai rõ ràng
1. Tầng quốc gia (tầm nhìn chiến lược)
Tập trung vào các sản phẩm công nghệ chiến lược mang tính đột phá và giải quyết các bài toán lớn của thời đại như Trí tuệ nhân tạo (AI), chíp bán dẫn, robot, vật liệu mới, công nghệ lượng tử, năng lượng tái tạo và năng lượng ngoài khơi...
2. Tầng vùng, chuyên ngành (Chuỗi giá trị liên kết)
Áp dụng cho các sản phẩm về nông nghiệp công nghệ cao, chế biến và bảo quản nông, lâm, thủy sản. Ở tầng này, các bộ, ngành chịu trách nhiệm định hướng vĩ mô để tạo ra chuỗi giá trị liên vùng hoàn chỉnh (từ nguyên liệu, chế biến, logistics đến tiêu thụ); trong khi các địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp nghiên cứu và triển khai thực địa.
3. Tầng địa phương (Thực tiễn, hiệu quả ngay)
Gắn liền với các sản phẩm cụ thể, khai thác trực tiếp lợi thế tuyệt đối của từng bản địa để tạo ra hiệu quả kinh tế tức thì (như sản phẩm OCOP, đặc sản vùng miền). Các địa phương giữ vai trò chủ động hoàn toàn trong nghiên cứu, triển khai nhưng phải đảm bảo phù hợp với định hướng quy hoạch chung của các bộ, ngành.
Bộ trưởng Lương Tam Quang cũng kiến nghị phải xác định trách nhiệm cụ thể. Đối với các bộ, ngành, cần thực hiện đúng vai trò “tư lệnh ngành”. Mỗi bộ phải làm rõ, trong chuỗi giá trị, ngành mình đang làm chủ ở khâu nào, chưa làm chủ ở khâu nào, công nghệ cần ưu tiên gì, sản phẩm gì cần tập trung và địa phương, doanh nghiệp nào có thể tham gia triển khai…
Trao quyền chủ động gắn với trách nhiệm để thúc đẩy sản phẩm công nghệ cụ thể
Đối với địa phương, phải chuyển mạnh từ đăng ký danh mục sang sản xuất sản phẩm; đề nghị các địa phương rà soát lại các sản phẩm đã đăng ký, phân loại rõ thành các nhóm: nhóm đã có khả năng thương mại hóa để tập trung nhân rộng; nhóm đang thử nghiệm nhưng có doanh nghiệp để tháo gỡ và đẩy nhanh; nhóm mới ở giai đoạn nghiên cứu thì phải gắn ngay với doanh nghiệp cụ thể; nhóm vượt quá năng lực thực tế thì phải mạnh dạn đưa ra khỏi danh mục đã đăng ký.
Mỗi tỉnh, thành phố cần chỉ định rõ một đầu mối chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm đến cùng đối với từng sản phẩm trọng điểm, tránh tình trạng giao cho nhiều cơ quan cùng làm nhưng không ai chịu trách nhiệm
Đối với doanh nghiệp, đồng chí Bộ trưởng đề nghị Chính phủ cần lựa chọn trong năm 2026 một nhóm doanh nghiệp công nghệ cao có năng lực thực sự để áp dụng cơ chế đặc thù, giao nhiệm vụ cụ thể gắn với sản phẩm đầu ra, thời hạn thương mại hóa và trách nhiệm cam kết rõ ràng. Đối với các sản phẩm công nghiệp an ninh, đề nghị ưu tiên đặt hàng đối với các sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định.
Bộ trưởng Lương Tam Quang đề xuất Thủ tướng Chính phủ phân công các đồng chí Phó Thủ tướng phụ trách các lĩnh vực ngay trong tháng 6 tổ chức làm việc với các địa phương để xác định các sản phẩm có thể triển khai nhanh trong năm 2026. Trong tháng 7, các bộ, ngành phải thống nhất danh mục các nhiệm vụ, sản phẩm triển khai trong giai đoạn 2026-2030, xác định rõ lợi ích kinh tế - xã hội mang lại, có lộ trình thực hiện cụ thể và báo cáo Ban Chỉ đạo trong tháng 7/2026.
Với vai trò là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57, chúng tôi sẽ làm tốt trách nhiệm tham mưu, đôn đốc, giám sát việc triển khai; Bộ Công an sẽ phát huy các nền tảng hiện có về dữ liệu, hạ tầng số, an ninh mạng và tiềm lực của tổ hợp công nghiệp an ninh để đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong quá trình tổ chức thực hiện
Khi công nghệ đi vào đồng ruộng
Hiện nay, các địa phương đã chủ động đưa khoa học xuống tận đồng ruộng, bờ biển, biến công nghệ thành xung lực kinh tế trực tiếp. Điển hình như Cà Mau đã nhân rộng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tuần hoàn ít thay nước (RAS-IMTA) lên quy mô 1.500 ha, tối ưu hóa lợi thế kinh tế biển của tỉnh. Trong khi đó, Vĩnh Long lại đưa công nghệ vào sản xuất nông nghiệp thông qua việc ứng dụng 62 máy bay không người lái (UAV) để phun thuốc bảo vệ thực vật, kết hợp sử dụng phân bón nano và nuôi cấy phôi sạch bệnh.
Tại miền Trung, sức sống của công nghệ sinh học và kinh tế tri thức cũng đang định hình những giá trị mới. Hà Tĩnh ưu tiên công nghệ nhà màng và công nghệ sinh học để phát triển mô hình trồng hoa lan Hồ điệp với diện tích 3.000m², xuất sắc thu hút được nguồn vốn đối ứng lên tới 8,4 tỷ đồng từ khối doanh nghiệp. Song song đó, Quảng Trị đã làm chủ thành công 70 quy trình công nghệ sinh học, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao giá trị lớn như nấm Vân Chi, đông trùng hạ thảo, sâm bố chính, đóng góp trực tiếp vào danh mục 370 sản phẩm OCOP toàn tỉnh.
Một điểm sáng nổi bật khác về chuyển đổi số toàn diện thuộc về Thái Nguyên với nền tảng “Tea Trace Thái Nguyên”. Đây là mô hình bao phủ trọn vẹn cả 4 hợp phần của chuỗi cung ứng: từ hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng tem QR, bản đồ số vùng nguyên liệu ứng dụng IoT, hồ sơ chất lượng số, cho đến phân hệ kết nối thương mại điện tử gắn liền với thương hiệu “Chè Thái Nguyên”, tạo nên sự liên kết chặt chẽ theo mô hình “3 Nhà”.
Hiệu ứng lan tỏa từ tư duy chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn tiếp tục ghi nhận những con số ấn tượng tại hàng loạt địa phương khác:
- Đồng Tháp: Ứng dụng nền tảng dữ liệu số để giám sát sâu rầy thông minh, giúp giảm tối đa lượng phun thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm hơn 15,4 tỷ đồng mỗi năm cho các vùng trồng lúa.
- Nghệ An: Kiến tạo kinh tế tuần hoàn từ sản phẩm lõi “Phân bón hữu cơ vi sinh chất lượng cao từ phụ phẩm nông nghiệp bằng công nghệ gia nhiệt”, xử lý hàng nghìn tấn rơm rạ, bã mía để cung ứng ngược lại cho các vùng cam Vinh và chè công nghiệp.
- Lào Cai & Cần Thơ: Đi sâu vào ứng dụng công nghệ gen trong bảo tồn giống bản địa, đưa chế phẩm vi sinh vào xử lý rác thải và xây dựng Hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất cho sản phẩm OCOP phục vụ xuất khẩu.
- Phú Thọ: Đẩy mạnh khâu lai tạo, bảo tồn gen giống quý (gà nhiều cựa Tân Sơn, lúa nếp gà gáy) và hình thành chuỗi liên kết trồng 30ha Quế đạt chứng nhận hữu cơ được doanh nghiệp bao tiêu 100%.