Không được “thêu dệt” chính sử

“Tuyệt đối không được viết bậy trong chính sử”- Đó là ý kiến của Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Ân – nguyên cán bộ Viện Sử học trước chi tiết Trần Hoằng Nghị là thân phụ của Trần Thủ Độ trong tập 3, bộ sách “Lịch sử Việt Nam phổ thông”, do Viện Sử học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật phát hành (2018).

“Các bộ chính sử của Việt Nam và các tài liệu khác viết về thời Trần mà tôi đã đọc, không thấy nói về ông thân sinh ra Thái sư Trần Thủ Độ. Đó cũng là vấn đề phải tìm hiểu, vì sao? Vậy mà một số nhà sử học lại nói Trần Hoằng Nghị thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ. 

Nói ở đâu thì cứ nói, viết ở đâu thì cứ viết - chẳng ai cấm được, nhưng tuyệt đối không được viết bậy trong chính sử. Nếu đã trót in ra sách rồi thì phải thu hồi và công bố rộng rãi để người đọc ngày nay và con cháu đời sau không bị lừa dối”, ông Nguyễn Quang Ân bày tỏ.

Khi bộ sách “Lịch sử Việt Nam phổ thông” ra đời, gồm 9 tập, do Viện Sử học công bố, trong đó nội dung ghi rõ thân sinh Thái sư Trần Thủ Độ là Trần Hoằng Nghị, đã khiến một cán bộ từng công tác ở Viện Sử học phải thốt lên: “Quốc sử quán mà viết bậy như thế thì còn biết tin vào đâu nữa?”.

Thiếu tướng Đào Quang Cát: “Không thể đưa nhân vật không rõ xuất xứ vào chính sử”.
Thiếu tướng Đào Quang Cát: “Không thể đưa nhân vật không rõ xuất xứ vào chính sử”.

Bố đẻ Trần Thủ Độ là ai? Đến nay chúng ta không tìm được bất cứ tài liệu lịch sử đáng tin cậy nào. Trong các tài liệu chính sử của Việt Nam là “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục”... đều nói rõ Trần Thủ Độ mồ côi cha mẹ từ bé và ở với bác là Trần Lý.

Vậy mà, tập 3, trang 194, Viện Sử học viết về Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ như sau: “Đến đời thân phụ của Trần Thủ Độ là Trần Hoằng Nghị và nguyên Tổ của nhà Trần là Trần Lý...”. Ở đây, xuất hiện một nhân vật lịch sử mới là “Trần Hoằng Nghị”, một người chưa hề được đề cập trong bất cứ tài liệu lịch sử nào liên quan đến triều đại nhà Trần.

Thạc sĩ Sử học Trần Anh Đức (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) đã tiến hành rà soát các bộ chính sử quan phương thời trung đại (Việt Sử lược, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám Cương mục…) cũng như một số tác phẩm sử học của Ngô Thì Sỹ, Phan Huy Chú, Nguyễn Văn Tố, Trần Trọng Kim… biên soạn nhưng không có một dòng nào ghi chép về thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ. Đồng thời, việc tra cứu cũng không có bất cứ thông tin nào về nhân vật có tên Trần Hoằng Nghị.

Từ đây, Thạc sĩ Trần Anh Đức bày tỏ: “Có thể đi đến khẳng định rằng, không hề tồn tại nhân vật nào mang tên Trần Hoằng Nghị trong chính sử Việt Nam và Trần Hoằng Nghị cũng không phải thân phụ của Trần Thủ Độ như nhóm biên soạn “Lịch sử Việt Nam phổ thông”, tập 3, đã nêu ra”.

Hậu duệ họ Trần Việt Nam đã có đơn thư kiến nghị gửi lên lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và các Ban, Bộ, ngành có liên quan tiến hành kiểm tra, thanh tra xác minh đầy đủ các thông tin nêu trên và có đánh giá, kết luận cụ thể, khách quan, trung thực, chính xác.

Nội dung kiến nghị mong muốn: “Đối với những trường hợp vi phạm, xuyên tạc lịch sử cần được xử lý nghiêm minh. Trước mắt đề nghị cho thu hồi ngay “Lịch sử Việt Nam phổ thông”, tập 3, do ông Nguyễn Minh Tường là chủ biên, chấn chỉnh lại những sai sót, không để sách phát hành khi còn những “hòn sỏi” lớn như hiện nay. Là sách lịch sử của quốc gia mà viết những điều phi lịch sử thì không thể chấp nhận được”.

Trước kiến nghị trên, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã yêu cầu Viện Sử học báo cáo giải trình bằng văn bản. Đồng thời Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật đã tạm dừng phát hành bộ sách.

Trong văn bản số 131/VSH-QLKH&HTQT ngày 26/6/2018, ông Đinh Quang Hải – Viện trưởng Viện Sử học giải trình:

“Việc tìm hiểu lai lịch của một nhân vật lịch sử sống cách ngày nay hơn 800 năm, trong hoàn cảnh rất thiếu thốn về tài liệu thư tịch, là một điều vô cùng khó khăn, đòi hỏi các nhà khoa học phải đặt ra nhiều giả thuyết khác nhau. Trên cơ sở các nguồn tài liệu hiện có, kết hợp với những tư liệu khảo sát thực địa, phần đông các nhà khoa học đã đưa ra kết luận thân phụ của Trần Thủ Độ là Trần Hoằng Nghị. Đây cũng là một giả thuyết khoa học, chưa phải là kết luận cuối cùng về vấn đề này”.

Sách “Lịch sử Việt Nam phổ thông”, tập 3.
Sách “Lịch sử Việt Nam phổ thông”, tập 3.

Văn bản do Viện trưởng Viện Sử học ký cũng cho biết cơ quan này đã chủ động làm việc trực tiếp với PGS.TS Nguyễn Minh Tường về vấn đề này. Người chủ biên sách cũng đã có Thư ngỏ gửi hậu duệ họ Trần Việt Nam.

Cuối cùng, Viện trưởng Viện Sử học kết luận: “Đến đời thân phụ của Trần Thủ Độ là Trần Hoằng Nghị và nguyên Tổ của nhà Trần là Trần Lý…” trong sách tập 3, “Lịch sử Việt Nam phổ thông” của PGS.TS Nguyễn Minh Tường là kế thừa kết quả nghiên cứu của giới sử học trong nước (cho đến thời điểm xuất bản sách). Trong thời gian tới, nếu “có những tư liệu mới, chứng cứ mới đủ sức thuyết phục” về vấn đề này, chủ biên cuốn sách “sẵn sàng từ bỏ nhận định nói trên của mình”, vì đó chính là nguyên tắc khách quan, trung thực của khoa học lịch sử.

Đáng chú ý là, trong tài liệu số 5 (“Chiến thắng Đông Bộ Đầu và Thái sư Trần Thủ Độ”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học do UBND TP Hà Nội – UBND tỉnh Thái Bình và Hội KHLS Việt Nam xuất bản, 2010) đính kèm của Viện Sử học, dẫn chứng bài viết “Thái sư Trần Thủ Độ - người kiến lập triều Trần, nhà chính trị kiệt xuất” (trang 43) của PGS.TS Tạ Ngọc Liễn có chi tiết: Trần Thủ Độ sinh ra ở làng Phương La, nay thuộc xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, để bảo vệ ý kiến của tác giả Nguyễn Minh Tường. Song, trao đổi với PV, PGS.TS Tạ Ngọc Liễn, nguyên cán bộ Viện Sử học đã bác bỏ tài liệu này.

Theo ông Liễn, đây là tài liệu bị sửa chữa, ngụy tạo. Ông nêu dẫn chứng cụ thể trong bài “Trần Thủ Độ người khởi dựng nhà Trần” được in trong cuốn “Danh nhân văn hoá trong Lịch sử Việt Nam” (Nhà xuất bản Thanh Niên, 2008), ông có viết: “Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) ở làng Lưu Xá, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình” (tr. 35).

Tiến sĩ Sử học Ngô Vương Anh chia sẻ: “Để có một kết luận mới, một nhân vật mới trong sử học là điều rất vất vả. Phải qua nhiều sự thẩm định sử liệu, trao đổi, thảo luận khoa học mới có thể tiệm cận với hiện thực lịch sử. Mỗi luận cứ Viện Sử học và tác giả Nguyễn Minh Tường đưa ra đều cần được chứng minh bằng những sử liệu được dẫn một cách đáng tin cậy. Những tư liệu cần được thẩm định và phê phán. Những nhận định phải được xem xét nhiều chiều”.

Còn theo phân tích của Thạc sĩ Trần Anh Đức, các nhà nghiên cứu lịch sử ngay cả sơ tâm cũng đều biết rằng, trong nghiên cứu khoa học lịch sử, sử liệu là nền tảng căn bản nhất, không có sử liệu thì không thể có nhận thức lịch sử. Hẳn nhiên, sẽ là thiếu thuyết phục, thậm chí phi lí khi nêu ra một thông tin mà lại không có bằng chứng để chứng minh nó có hay không, nó đúng hay sai.

Trong hệ thống các sử liệu được sử dụng để nhà sử học nhận thức quá khứ, nhóm sử liệu chính thống quan phương bao giờ cũng được đánh giá cao nhất về tính xác thực, mặc dù nhà sử học cần phải tiếp tục sưu tầm thêm sử liệu, phê phán sử liệu.

“Thực tế cho thấy, nhóm tác giả biên soạn cuốn sách chưa đưa ra căn cứ xác tín củng cố cho nhận định nhân vật Trần Hoằng Nghị là thân phụ của Trần Thủ Độ mà có lẽ đã võ đoán dựa trên những ghi chép không chính thống. Do đó, tôi cho rằng nhân vật Trần Hoằng Nghị được nêu ra trong cuốn sách không có thật, có thể chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng có chủ đích, thiếu hẳn căn cứ khoa học”, Thạc sĩ Trần Anh Đức nhấn mạnh.

“Một nhân vật có tên Trần Hoằng Nghị không rõ nguồn gốc, không rõ xuất xứ có đủ điều kiện để ghi vào lịch sử của quốc gia không? Theo chúng tôi là không. Càng không thể đưa vào sách lịch sử phổ thông để phổ biến cho đông đảo nhân dân” (Thiếu tướng, Phó Giáo sư Đào Quang Cát).

“Cuộc tranh luận chưa đi đến kết luận nhưng sau khi những điều còn tranh cãi đã trở nên rõ ràng hơn, có nhiều cách để thông tin đến với đông đảo công chúng. Bạn đọc cũng mong muốn nếu cần điều chỉnh những điều chưa/không hợp lý cũng không nên (và cần) chờ đến lần tái bản cuốn sách này” (Tiến sĩ Sử học Ngô Vương Anh).  
Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).