Khói trời lộng lẫy - Cuộc dạo chơi giữa những khoảng ngưng buông

Thật sáo rỗng khi nói mãi chuyện này, nhưng chúng ta đều thích bầu bạn với cô đơn. Nguyễn Ngọc Tư cũng vậy, cô không hề lúng túng trong việc diễn tả sự cô đơn đến vô cực. Nó giống như vẽ lại bức tranh không có mặt trời, nhân vật trong mỗi câu chuyện đều lạnh toát và dớp dính, như chúng ta đều mang nỗi cô đơn trong mình dù ít dù nhiều.

Kẻ ngoại đạo trung thành

Khi hầu hết những tác phẩm đương đại tiến về thị thành, Nguyễn Ngọc Tư chọn làm một kẻ ngoại đạo. Cô đứng ngoài cuộc chơi của khuynh hướng cách tân, cô thấu rõ tạng văn, định hình phong cách và gọi tên giá trị cốt lõi mình theo đuổi ngay khi bước chân vào văn đàn. Chất miền Tây ngấm sâu vào máu thúc đốc Tư miệt mài đi và viết hồi những năm mười bảy, dáng dấp Nam Bộ in bóng trong mỗi trang văn cô ký họa, từ “Ngọn đèn không tắt”, “Giao thừa”, “Nước chảy mây trôi”, “Cánh đồng bất tận” đến tập tản văn gần nhất là “Hành lý hư vô”. Nhưng tôi không bàn về điểm khởi đầu, không luận về phần sau cuối, chuyện tôi muốn kể nằm ở “Khói trời lộng lẫy”, một dấu mốc nằm giữa chặng đường sáng tác của Tư.

Với Tư, thế giới được kiến tạo từ những thi liệu đặc trưng của miền Tây. Đó có thể là khói đốt đồng phơ phất dưới hoàng hôn, khúc sông chiều với tiếng bìm bịp vẳng theo con nước, căn chòi thơm hương lá mục, những chuyến xe lữ hành có đặc sản là bolero và dầu gió,… bất cứ thứ gì của dải đất ấy cũng có thể hóa thành văn dưới ngòi bút của Tư. Còn con người, họ cũng bé mọn như một chiếc thúng nan trôi giữa sông đời. Đó là những người đàn bà làm lẻ, những tên đàn ông gắn nhiều lớp mặt nạ, những cặp tình nhân, những gã nát rượu, những thiếu niên nổi loạn âm thầm…

Khói trời lộng lẫy: Cuộc dạo chơi giữa những khoảng ngưng buông -0
Với “Khói trời lộng lẫy”, ta chọn đọc để nghiền ngẫm, chìm trôi và tìm quên trong một thế giới khác. Ảnh: Thiên Di.

Trong 9 truyện ngắn của “Khói trời lộng lẫy”, nỗi cô đơn được Nguyễn Ngọc Tư rải đầy lên mặt giấy. Nó phả ra hơi lạnh của sương mù, tuyết, băng, của chạng vạng thinh không vùng phố núi, khi mặt trời trườn xuống cùng vệt nắng sau rốt của ngày tàn. Thay vì dùng tiếng gào khóc và nước mắt để nói về cô độc, Nguyễn để chàng trai và cô gái nhen lên mối tình vụng trộm, họ yêu nhau đến mức có thể chết vì nhau. Rồi khi cô gái bảo đang mang giọt máu của anh trong mình, chàng trai đã buông tay cô giữa dòng thác dữ. Thay vì bảo rằng con người là sinh vật rất đáng thương, Tư kể về người cha đánh mất đứa con quý tử, mà chủ mưu lại là đứa con gái rơi ông chẳng hề nhớ đến. Cô ta cô đơn đến mức phải mượn một tội danh để có ai đó ráo riết tìm kiếm, chì chiết, rơi nước mắt (dù là căm thù) vì mình. Tư cứ kể hẫng, bỏ lửng, thả ta ở lưng chừng. Còn ta, với chiếc ống nhòm trong tay, sẽ quan sát cây cối, chim muông và mây trời, quan sát nhịp đời bất tận chảy trôi bên trong mỗi nhân vật.

Những khạp rượu tinh mới

Câu chuyện bắt đầu khi Sáo, một phụ nữ miền Tây cùng chồng lênh đênh thương hồ phải đối diện với sự thật: chồng mình đã bị dìm chết trên bè rau Đại Thanh trong một đêm trăng (Nước như nước mắt). Trên chiếc ghe cũ, nhìn xác chồng tong teo héo rộp và nước mặn mon men tràn bờ, Sáo biết đời phải sang trang mới, một trang chỉ còn cô với kẻ sát hại chồng mình, cũng là người khi xưa cô từng thề non hẹn biển. Vậy đấy, bằng cách này hoặc cách khác con người luôn bị đẩy vào thế bĩ cực lưỡng nan. Và nhân vật phải thoát khỏi bóng đêm trong tập truyện này, lần nữa là người phụ nữ.

Tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên vì trước khi bước vào “Khói trời lộng lẫy”, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện trong truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết đã dày đến nỗi ta những tưởng sẽ chẳng còn gì mới mẻ trước đường ray han gỉ của cuộc chơi chữ nghĩa. Không ngoài dự đoán, đó vẫn là chiếc bình cổ với nét chạm khắc của bi kịch, tình yêu nhưng một thứ rượu tinh mới được Nguyễn Ngọc Tư kháp vào. Chúng thoang thoảng, chếnh choáng, dẫn ta vào mê cung huyền diệu của văn chương.

Những người đàn bà, họ rong ruổi trong các khu tập thể nửa thành thị, họ bước chân vào phố, họ trôi, họ yêu, họ rơi nước mắt, họ đốn ngộ đời mình như những cỗ máy lao động hết công suất để gạt phăng ký ức. Mà, đời vẫn hay thích đùa, ngay khi ta sắp chạm tay vào hạnh phúc thì nó hóa thành một quả bóng và vút bay. Đó là một người đàn bà mất chồng (Nước như nước mắt), một người chị mất em (Mộ gió), một chị giúp việc vĩnh viễn chôn cất tình đầu nơi buổi chợ (Có con thuyền đã buông bờ), một cô gái sinh ra từ hơi men mười bảy năm vùi đời trong cơn say của đàn ông (Rượu trắng), một người suốt đời lưu giữ cái đẹp sắp tuyệt chủng của nhân loại (Khói trời lộng lẫy)… Chính Tư đã viết “cái xóm nhỏ nằm giữa dòng Mê mênh mông ấy, tự nó như một chốn lưu đày”.

Khói trời lộng lẫy: Cuộc dạo chơi giữa những khoảng ngưng buông -0

Thế nhưng trong nhịp đời bất tận của những tấu khúc tầm thường ấy, vẫn hiển lộ dấu chân của hạnh phúc khẽ khàng. Sau mất mát, Tư cho phép họ mua lại những tinh cầu. Cô Nghĩa mua lại lời yêu đã mất sau hai mươi năm từ tên nhóc gọi cô là “nhà giáo” (Cảm giác trên dây), Bằng mua lại mộng giang hồ bằng cái nắm tay của một người con gái (Thềm nắng sau lưng), Vĩnh khâu lại vết thương trong tim ba má (và cả trong anh) bằng một câu nói của bồ (Osho và bồ)... Dù bị hạnh phúc chối bỏ, mỗi nhân vật vẫn có cách tìm thấy ánh sáng của đời mình.

Chỉ dấu của niềm tin

Truyện ngắn là một thể loại cô đặc, trong đó “cái không bình thường hiện ra như một cái gì đó bình thường, và cái bình thường hiện ra như một cái rất không bình thường”. Và “Khói trời lộng lẫy” nằm ở giữa dải tần mà một cực là sự bình thường và cực kia là sự bất thường, khác lạ đến kỳ dị. Với “Cánh đồng bất tận”, người ta có thể tạo ra cả bộ phim điện ảnh và có tá thứ để luận bàn về thiên truyện từ năm này qua năm khác. “Khói trời lộng lẫy” không giống vậy, ta chọn đọc để nghiền ngẫm, chìm trôi, tìm quên trong một thế giới khác. Và trong vô vàn ý tưởng hiện ra khi tôi bắt đầu hí hoáy những dòng này, tôi nghĩ mình sẽ zoom cận ống kính về phía Di, một nhân vật bí ẩn, dị thường. Sự bí ẩn rất khác với cha con Nương. Bởi nếu sau khi khép lại câu chuyện về những cánh đồng ta đã có một hiểu biết hoàn chỉnh về cha con Nương, thì ngay cả khi khép lại “Khói trời lộng lẫy”, ta vẫn thấy còn quá nhiều khoảng trắng nơi Di cho những dòng suy nghĩ. Thậm chí ngay cả câu hỏi đơn giản về cô cũng là một dấu chấm lửng, câu hỏi: Di là ai?

Vậy Di thực sự là ai? Nữ phóng viên tài năng và khác lạ của Viện di sản và con người? Đạo diễn của toàn bộ kế hoạch bắt cóc Phiên? Một người phụ nữ bị hành hạ bởi quá khứ, mang nỗi day dứt không bao giờ vơi cạn? Hay, một kẻ tội đồ? Tư để ta có thể đọc về Di theo bất cứ cách nào, và trong lần đọc lại “Khói trời lộng lẫy” sau đâu đó vài năm, bản thân tôi cũng phát hiện ra một góc nhìn khác về nhân vật bí ẩn này: Di biểu tượng của niềm tin.

Di hay treo nụ cười như chiếc áo, “mặc để che những bề bộn trong lòng”. Thế nhưng, bất chấp vẻ điềm nhiên dửng dưng, Di vẫn chịu đày ải mãi mãi bởi lầm lỗi và tổn thương trong quá khứ, như khi cô gạt nước mắt thổ lộ về số phận đứa con gái “chín tuổi đội khăn tang tiễn đưa má trong một đám ma thưa người” hay về mối tình vụng trộm hơn 13 năm trước với phó viện di sản, khi cô quằn quại giữa ký ức khơi lên từ những chiều mưa xiêu vẹo trên cồn Bần. So với một đứa trẻ được ôm ấp trong hơi ấm tình yêu như Phiên, Di tự thấy mình thật dị thường, đôi khi, thừa thải, ngu dốt, đáng thương - điều cô vẫn giễu cợt về Lam đấy thôi. Và suy cho cùng, cứ cho cuộc đời có quyền ngã giá những niềm tin. Nhưng kẻ mang sứ mệnh giành lại chúng, kẻ có thể nhuộm đỏ những trái tim đen kịt chính là con người - hai tiếng con người trong tất cả những “yếu đuối về thân xác và hạn hẹp về quyền năng của chính mình”.

Murakami từng viết “sau khi đã tìm kiếm, tổn thương và lạc hướng, chúng ta vẫn có thể tin vào tình yêu như cũ chính là một loại can đảm”. (Rừng Na Uy). Có người đã đốn hạ và lấy đi niềm tin của Di. Ngôi nhà cháy tan hoang. Lửa bén từ cây đèn xuống gian bếp, lửa liếm láp lên cái quạt tàu cau và khói bắt đầu trườn lên những sợi tóc. Không còn chỗ cho những niềm tin trên đời này. Thế gian rộng lớn nhưng không có chỗ cho dù chỉ một niềm tin. Nên Di nhuộm lại trái tim cô bằng cách can đảm giữ lấy vẻ lộng lẫy của khói trời...

Phan Thiên Di

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).